Thông tin
 
Thống kê
 22 Hôm nay
 146 Tuần
 525 Tháng
 7.532 Năm
 46.655 Tất cả
1 Online
 
Video
 

kẻ rị kẻ chè(phần 1)

xã Thiệu Trung ngày nay vốn nằm trong một vùng đất cổ xưa. Đã từ lâu, xứ Thanh ghi nhận mối tình cảm đặc biệt với vùng đất này trong câu ca dao tình tứ:

                              Ai về Kẻ Ry, nhắn chị hàng thừng

                  Trăm chắp ngàn nối xin đừng quên nhau!

                                                                  (Ca dao Thanh Hoá )

Nhớ về Kẻ Rỵ – Kẻ Chè -đất Thiệu Trung ngày nay – cũng chính là nhớ về quê hương của nghề đúc đồng nổi tiếng. Phương ngôn Thanh Hoá đã không quên đưa vào danh mục sản phẩm do bàn tay khéo léo, cần cù của người xứ Thanh, sản phẩm bằng đồng của nghề đúc Kẻ Chè:

 

                                          Tranh Quần đót

                                          Cót Kẻ Căng

                                          Năng Chè, Rỵ

                                          Bị Làng Ngò

                                          Bò Chợ Bản…(1)

Nghề đúc đồng, nghề làm thừng cùng với nghề làm ruộng đã làm cho mảnh đất này có một dáng vẻ dễ nhớ khó quên.

Đình làng Chè có từ cổ xưa

Căn cứ vào những dấu vết hiện còn, những câu chuyện dân gian truyền miệng những  điều ghi lại trong tộc phả, gia phả, tục lệ, khoán  ước…thì Kẻ Rỵ – Kẻ Chè chắc chắn có bề dày ngàn năm lịch sử. Từ thế kỷ IX, cuộc sống ở đây đã sầm uất, thịnh vượng, có lúc cả nước Đại Việt hướng về. Xa xưa hơn nữa, vùng đất này có thể từ thế kỷ thứ 6 (thời thuộc Đường) đã có con người sinh cơ lập nghiệp, mà hồi âm của hơn một ngàn năm trăm năm lịch sử còn vọng lại tới bây giờ. Vùng đất Cửu Chân. Ái Châu còn để lại những  dấu tích đậm đà ở đây, trong những  thành tựu của truyền thống văn hoá lâu đời, liên tục phát triển  cho đến ngày nay, Kẻ Rỵ – Kẻ Chè này (2) chính là địa bàn trọn vẹn của xã Thiệu Trung, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá .

            Tên xã Thiệu Trung có từ sau cuộc cách mạng ruộng đất năm 1954. Cách mạng tháng Tám thành công, Kẻ Rỵ – Kẻ Chè.

 

 
 

   

(1)               Câu phương ngôn này còn dài, Quần Đot tức là quần kênh xã Xuân Giang huyện Thọ Xuân, có tranh săng tốt. Kẻ Căng tức làng Bất Căng huyện Thọ Xuân, có nghề đan cót lâu đời Chè, Rỵ tức là làng chè làng Rỵ có nghề đúc đồng nối tiếng. Năng là loại nồi đồng cỡ nhỏ v.v…

(2)               Kẻ Rỵ – Kẻ Chè nằm trong một vùng các Kẻ dày đặc thuộc trung tâm lúa nước Thanh Hoá : Kẻ Bôn, Kẻ Chẻo, Kẻ Go, Kẻ Ran, Kẻ Mơ, Kẻ Chấn.

Vốn là các thôn của xã lớn Minh Quang (1): đến năm 1954 Kẻ Rỵ – Kẻ Chè mới tách ra lập nên xã Thiệu Trung.

1 .Kẻ Rỵ: (Còn gọi là Kẻ Rây, làng Dậy). Đến thời nhà Lý Kẻ Rỵ được gọi là giáp Bối Lý; Thời Lê trở đi gọi là Phủ Lý; đến thời Nguyễn thì Phủ Lý chia làm 3 làng Trung, Nam, Bắc thuộc Kẻ Rỵ (tên chữ là Rậy trang thôn).

2 .Kẻ Chè: (Còn gọi là làng Chè, hoặc làng Trà Đông, hoặc làng Trà Đúc hay Chè Đú). Vốn xưa, làng Trà Đông gộp với lang Trà Thượng làm thành Kẻ Chè có tên chung là Trà Sơn xã (nơi đây có Ngã Ba Chè chỗ rẽ của con đường tỉnh lộ: một đi Thọ Xuân, Bái Thượng, một đi qua Phà Vạn để lên Kiểu và lên Thành Nhà Hồ đến Cẩm Thuỷ Bá Thước…) thời Pháp thuộc tỉnh Thanh xây đập Bái Thượng, con kênh nông giang từ đập này chảy về chia đôi hẳn hai làng Chè Thượng và Chè Đúc, làng Chè Thượng nay thuộc xã Thiệu Đô huyện Đông Sơn .

Từ 1952 đến 1977, xã Thiệu Trung thuộc huyện Thiệu Hoá, vào năm 1976, 1977 huyện Thiệu Hoá  chia đôi, một nữa thuộc Bắc sông Chu ghép với huyện Yên Định (cũ) lập nên huyện Thiệu Yên một nữa thuộc Nam sông Chu ghép với huyện Đông Sơn  (cũ) lập nên.

 

 
 

 

            (1)Xã Minh Quang lớn có 11 thôn chia về các xã nhỏ: Phủ Lý Trung, Phủ Lý Nam, Phủ Lý Bắc và Trà Đông (lập thành xã Thiệu Trung ), Nguyệt Lãng, Mỹ Lý, Hổ Đàm (chia về xã Thiệu Lý ); Viên Nội, Viên Ngo , Nguyệt Quang, Phủ Thứ chia (về xã Thiệu Viên) .

 

Huyện Đông Thiệu sau đổi lại là huyện Đông Sơn (1983). Xã Thiệu Trung thuộc về huyện Đông Sơn ngày nay.

            Nhìn vào bản đồ địa lý hành chính Thanh Hoá hiện giờ, xã Thiệu Trung  ở vị trí: phía Đông giáp xã Đông Thanh, phía Tây giáp hai xã Thiệu Lý và Đông Hoàng, phía Nam giáp xã Đông Khê; phía Bắc giáp xã Thiệu Đô. Con đường tỉnh lộ 47 chạy trên bờ Kênh Bắc (tức con nông giang từ đập Bái Thượng chảy về) Từ Kẻ Bôn (xã Đông Thanh) lên đến làng Trà Thượng (xã Thiệu Đô) làm thành địa giới tự nhiên của xã về phái Đông và Đông Bắc. Phía tay và phía nam là cánh đồng lúa hai vụ bát ngát, chia ranh giới với các xã Thiệu Đô,  Đông Hoàng, Đông Khê .

Cho đến 1984, xã Thiệu Trung  có 784 hộ gồm 3.681 nhân khẩu ( trong đó có 1.256 lao động) với diện tích đất đai là 360 hécta (trong đó có 282 hécta canh tác)

Thiệu Trung nằm trong vùng trọng điểm lúa của tỉnh Thanh Hoá. Con kênh Bắc chảy qua xã có hệ thống mương máng tưới thẳng vào đồng ruộng Kẻ Rỵ – Kẻ Chè làm nên hai mùa“lúa tốt, người vui”.

            Thời Tiền Lê vua Lê Đại Hành cho đào con sông nên gọi luôn là con sông nhà Lê, qua đây. Khởi Thuỷ từ thôn Đồng Cổ (thuộc làng Đan Nê, xã Yên Thọ huyện Thiệu Yên ngày nay), con sông Nhà Lê vượt qua con Sông Chu chảy về huyện Thiệu Thọ và len lỏi trong những  cánh đồng Nghệ An. Từ bến nước Hậu Hiền bên bờ sông Chu, sông nhà Lê ngoằn ngèo đi qua các xa Thiệu Tâm, Thiệu Vận, Thiệu Lý, Thiệu Trung, Đông Thanh… Đến địa phận xã Thiệu Trung, sông nhà Lê từ phía Bắc tiến vào giữa xã, ngăn đôi Kẻ Rỵ – Kẻ Chè. Hai Kẻ này trãi dài trên hai triền tả ngạn và hữu ngạn sông Lê. Từ thời xưa, cuộc sống trên các bến sông Lê nơi đây đã khá sầm uất. Con sông trong mát, nước ngọt thơm khiến vua nhà Lê qua đây ban cho hai chữ “Hương Giang”. Từ đó đoạn qua Thiệu Trung, còn có tên riêng là Hương Giang.

            Hai bờ sông Lê bóng tre trùm mát rượi, những cành sung rậm qua ngã dài trên mặt nước và tiếng vỗ giặt áo hoà trong tiếng cười giòn giỡn nước của trẻ chăng trâu làm cho cuộc sống vừa hồn nhiên chất phác, vừa yên  lành tươi vui. Những đêm trăng, tiếng hát ghẹo của trai gái hai làng, bên phường thừng bên Kẻ đúc làm ấm áp đôi bờ. Dọc sông Lê, các miếu thờ thành hoàng của Kẻ Rỵ – Kẻ Chè đều ngoảnh mặt xuống sông. Từ đầu làng Bắc đến cuối làng Nam, các miếu thờ dân theo theo thứ tự Miếu Nhị (thờ Thiên Phúc hoặc còn gọi là Thiên Mao), miếu Tam (thờ ông Đại Hành ), miếu Ngũ (thờ Bạch Y Long ) . Cũng trên bờ sông Lê này còn có chợ Chè nằm ở Đình làng thôn Trà Đúc chợ Rỵ nổi tiếng về thừng nứa. Còn chợ Chè lại nổi tiếng về đồ đồng. Những ngày phiên chợ, các nhà làm nghề đúc đồng trong làng đem sản phẩm của mình bày bản trong các gian đình này. Thừng nứa và đồ đồng đều là những nghề truyền thống lâu đời của Kẻ Rỵ – Kẻ Chè, đậm đà màu sắc văn hoá dân gian.

            Từ Kẻ Bôn (Xã Đông Thanh) đi lên. về phía hữu ngạn sông Lê là con đưòng lớn từ tỉnh lỵ Thanh Hoá - Bái Thượng (giáp giới giữa hai huyện Thọ Xuân và Thưòng Xuân mà dân vùng này gọi là “ đường cái  quan” con Đường này vượt qua cầu thụ (bắc trên sông Lê theo kiểu “ thương gia hạ kiều ” ở đoạn sát chợ Rỵ nay không  còn nữa) đi sang chợ Rỵ và nối với các thôn Mỹ Lý, Hổ Đàm (xã Thiệu Lý) để qua Triệu Sơn. Cũng từ cầu thụ, con “đường cái  quan ” này đi thẳng lên phía Thọ Xuân. Ngày xưa, cáng các “quan lớn” đi trên đường này chia chảng các làng phải thay nhau đổi các đoạn qua lưng mình. Ngày nay, tiếng hô “cáng! cáng! ố làng!” báo cho trai làng ra thay cáng, trai làng không đủ người ra thay cáng quan Nghè Trần (người làng Nam, lúc đó đã về hưu ra cáng thay, cáng qua Cỗ Thụ để lên làng trên.  Trai làng trên ra nhận cáng thấy quan Nghè Trần lên lạy chào. Viện quan huyện lúc đó mới biết quan Nghè cáng mình, sợ quá, từ trên cáng tụt xuống sụp lạy, van xin rối rít, quan Nghè quở mắng mấy câu. Trở về qua Cầu Thụ, quan Nghè bẻ một khúc vai lim trên mái cầu về đẻo thành cái thẻ báo việc phải có người túc trực để đến nhà nào, nhà ấy phải có người sẵn sàng ra thay cáng. Trên con “đường cái quan” này cũng ghi lại nhiều giai thoại văn học đối đáp của “cu Quét ” (tương truyền là ông Lê Bá Quát ) với quan huyện, quan tỉnh hoặc của quan Nghè Trần (khi còn thiếu thời) cùng với các quan đi cáng qua làng.

            Xa rừng rú, xa núi non, xã Thiệu Trung nổi lên đặc trưng lúa rõ rệt và thuần tuý. Văn minh lúa nước, văn hoá nông nghiệp có dấu vết từ xa xưa tới nhiều tầng lớp có thể tìm thấy ở cả vùng lúa rộng lớn này, mà Thiệu Trung là một điểm rất đáng chú ý .

Xã Thiệu Trung cách các vùng khảo cổ ở Thanh Hoá không xa lắm. Ba mươi vạn năm về trước, người Việt Thái cổ đứng trên đỉnh núi Đọ có thể nhìn thấy vùng sinh lầy bát ngát nơi đây trong tầm mắt công trường đồ đồng Đông Sơn lại gần hơn nữa. Địa điểm khảo cổ “Cồn Chân Tiên” (thuộc xã Thiệu Khánh), nơi tìm thấy di chỉ đầu tiên của nghề đúc đồng cổ xưa, cách Thiệu Trung không quá sáu cây số về phía Tây Bắc. Không rõ có mối quan hệ giữa thôn Trà Đúc – một làng có thể coi là thuần tuý làm nghề đúc đồng với các công trường đúc đồng Đông Sơn nổi tiếng này hay không; nghề đúc ở Kẻ Chè với các tục lệ tôn thờ màu đỏ (biểu hiện cho thần Lửa , thần Đồng ) với lời truyền miệng từ đống lửa to bằng cái thúng từ Cồn Hạ (ở bìa làng Chè ) cứ lăn vào làng  trong những  đêm tối trời mưa lất phất, chắc không nhiều thì ít, có để lại dấu ấn của người Đông Sơn thời đại đồ đồng. Chưa cho phép chúng ta có kết luận gì về mối quan hệ này song cũng không thể buộc ta không nghĩ đến trong một bối cảnh địa lý lịch sử như vậy.

            Nằm trong một vùng của các Kẻ (như đã nói trên), Kẻ Rỵ – Kẻ Chè đã ổn định thành những địa bàn cư dân của những ngày đầu mở nước dựng nước. Rỵ là gì? Chè có phải là tên loại cây cho ta làm nước uống hay không? Điều đó chưa có một sự giải thích nào thoả đáng cả.

            Cho đến thế kỷ thứ X thì Kẻ Rỵ đã được cả nước biết tiếng với Lê Lương là ông tổ họ Lê ở đây. Lê Lương được mệnh danh là “hào trưởng Ái Châu” là “nhà cự tộc Châu Ái” được ban chức Bộc xạ tướng quốc Quang Lộc đại phu, cai quản cả đất Cửu Chân với quyền hành đô quốc tịch sứ quán Cửu Chân. Lê gia chính phả ghi rõ: “Gia thế giàu thịnh, nhà thường chứa  hơn trăm lẫm thóc, môn khách thường có ba ngàn ” .Ông rất giàu lòng nhân đức. Ngày nay, hồi quang của công đức ấy vẫn còn in đậm trong lòng các bậc già cả, qua những ấn tượng mà ông bà tổ tiên truyền lại.

Qua sự kiện đó ta có thể hình dung ra cuộc sống Kẻ Rỵ – Kẻ Chè lúc này: nông nghiệp phát triển, dân cư đông đúc đời sống văn hoá phong phú và ổn định. Tuy sống vào những đêm cuối của một chuỗi dài thời gian Bắc thuộc, thuộc Hán, thuộc Tuỳ, thuộc Đường … trong thân phận “vong quốc nô” dưới sức ép đồng hoá mạnh mẽ của bọn phong kiến bành trướng phương Bắc. Nhưng Kẻ Rỵ – Kẻ Chè vẫn giữ được cái độc lập riêng và cuộc sống nơi đây ổn định trong mối quan hệ chung với toàn quốc. Bốn phong kiến phương Bắc tàn bạo đầy tham vọng vẫn không kiểm soát được Kẻ Rỵ – Kẻ Chè, bản sắc văn hoá dân tộc ở đây chẳng những  không bị tiêu huỷ mà ngược lại còn có sức mạnh đồng hoá lại bọn bành trướng xâm lược mà dấu vết còn in lại trong việc thờ thành hoàng, trong các tục lệ, trong tập quán nông nghiệp… nơi đây.

            Sử sách ghi nhận: “tổ tiên Lê Lương sống vào khoảng đời Đường (Xem văn bia chùa Hương Nghiêm) ở Thanh Hoá có Lê Ngọc là người Trung Quốc” được nhà Tuỳ cử sang làm chức quan nhỏ. Có lẽ bất mãn với chính sách đồng hoá người Việt quá tàn khóc và chắc không được sùng ái ở chính quốc, nên Lê Ngọc cùng gia thuộc khỏ dân địa phương chống lại Đường. Để thu phục dân bản địa, Lê Ngọc ra sức vỗ về, thi ơn đức, bảo cho họ chống lại chính quốc. Sau đó, Lê Ngọc cùng bốn người con của mình (3 trai một gái) dựng cờ khởi nghĩa. Dân quanh vùng một lòng hưởng ứng. Cuộc  khởi nghĩa này làm cho vua tôi nhà Đường rất lo sợ. Chỉ sau mấy tháng, cả một vùng rộng lớn của xứ Thanh thoát ly sự ràng buộc của nhà Đường, Lê Ngọc tự xưng là hoàng đế, phong cho con trai con gái tước vương, định chế độ, đặt quan chức, đặt tên nước là Trường Xuân, đóng đô tại làng Đồng Pho ( xã Đông Hoà huyện Đông Sơn  bây giờ). Ách thống trị được nới lỏng, cuộc sống cả vùng dễ thở hơn. Chỉ một năm sau nhà Đường phải sai tướng giỏ sang dẹp. Lê Ngọc bị thất trận cùng với các con hi sinh nơi chiến địa. Cũng có lời truyến miệng rằng Thánh Lưỡng là con thứ ba của Lê Ngọc, bị chém rơi đầu còn ôm đầu mà chạy máu rơi đến đâu lập đền thờ đến đấy, có đến 72 đền thờ. Lê Ngọc chết, nhân dân thương tiếc lập đền thờ, tôn là Cao Hoàng, các con được phong làm thành hoàng nhiều nơi trong vùng. Ở Kẻ Chè trước kia thờ Thánh Lưỡng làm thành hoàng có duệ hiệu là Trung Quốc (hay “Trung Quốc thượng đẳng tới linh tôn thần ”) có lẽ là thờ một trong những người con của Lê Ngọc. Như vậy, dù là người Trung Quốc song đứng về phía dân tộc bị áp bức để chống lại mưu đồ bành trướng bá quyền thì đều được nhân dân ta trân trọng. Đây có lẽ là một trong những dẫn chứng hùng hồn về sức mạnh “đồng hoá” ngược lại của nền văn hóa Lạc Việt đối với bọn phong kiến Bắc phương .

            Lê Ngọc có thể chính là tổ tiên của Lê Lương như sách vở đã ghi. Từ Lê Ngọc đến Lê Lương trãi qua trên 300 năm thì nguồn gốc thế nào đi nữa Lê Lương thực chất đã là người bản địa, là người của Kẻ Rỵ – Kẻ Chè  rồi .

            Gắn bó với nhân dân  nơi đây Lê Lương cùng với tổ tiên của ông đã góp phần thúc đẩy cuộc sống nông nghiệp, khai phá  và thuần thục ruộng đồng, xây dựng làng xóm, góp phần khai sáng văn hoá nông nghiệp cả vùng, nhất là Kẻ Rỵ – Kẻ Chè.

            Lê Lương tôn sùng phật giáo. Không rõ đạo phật khởi thuỷ du nhập vào đây như thế nào song đến đời Lê Lương đã rất thịnh hành. Lê Lương từng xuất của nhà xây dựng các chùa Hương Nghiêm, Trinh Nghiêm, Minh Nghiêm, chùa Hương Nghiêm đặt ở Kẻ Rỵ, chùa Trinh Nghiêm ở Kẻ Go cong chùa Minh Nghiêm có lẽ đặt ở Kẻ Bôn. Phương ngôn nơi đây có câu “chùa Go là chị  chùa Rỵ là  em ” cũng nói lên mối quan hệ của các chùa này.

            Chùa Hương Nghiêm có tên là “Kiền Nê Sơn , Hương Nghiêm tụ”, còn gọi là chùa Càn Ni. Ở đây không có núi, chữ “Kiền Nê Sơn ”có lẽ để chỉ miền đất cao quẻ Kiền, mành đất quý mà thôi. Chùa tuy đã mất song dấu tích còn lại trên cánh bãi nền chùa, cánh đồng sau chùa thuộc làng Phủ Lý Trung. Về sau chùa được chuyển về nhà con cháu Lê Lương, ngày nay gọi là “chùa ông Hưu” cũng là nhà thờ Lê Văn Hưu, Lê Lương dựng chùa Hương Nghiêm, con cháu các đời sau trùng tu lại nhiều lần thành một di tích văn hoá hoàn hảo.

            Trên đá chênh vênh tượng phật oai nghiêm, giữa sóng thấp cao toàn thân Đa Bảo. Mái hiên cong cong như cánh trĩ, ngói lợp lớp lớp như vảy rồng. Lan can thoáng mát, cửa ngõ thênh thang. Mê trái có một toà lâu nguy nga trong treo chuông lớn. Bên phải dựng một tấm bia đá ghi chép công lao, ngõ hầu mong nghìn năm không mai một. Tường vách bao quanh, cách xa chân giới cỏ hoa tươi tốt, ngào ngạt khói hương”.

                                                (Văn bia chùa Hương Nghiêm)

            Thời Đinh Tiền Hoàng, Lê Lương đã được vua Đinh đền hành tại ban cho chức tước cai quản đất Cưu Chân.

            Thời Tiền Lê, Lê Hoàn đã cùng quân lính về Kẻ Rỵ gặp Lê Lương, tiếp tục cử ông cai quản đất Cửu Chân, dựa vào ông để diệt Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc và sau đó Lê Lương giúp việc quân lương để đánh thắng quân Tống xâm lược. Như vậy , với Lê Lương đất Cửu Chân (tức Thanh Hoá ngày nay) góp được phần xứng đáng vào sự nghiệp thống nhất đất nước dưới thời Đinh – Lê, anh dũng đứng dưới ngọn cờ chống Tống oanh liệt của Lê Hoàn. Kẻ Rỵ – Kẻ Chè lúc này là trung tâm của đất Cửu Chân. vì nơi đây là hành tại của quan Đô quốc dịch sứ quán Lê Lương. Đó là trung tâm văn hoá chính trị của tỉnh Thanh một thời.

            Sang thời Lý - Trần, Kẻ Rỵ – Kẻ Chè vẫn sầm uất phát triển, Đạo phật ở đây phát huy ảnh hưởng hơn lúc nào hết, con cháu Lê Lương, như Lê Dụng, Lê Chính, Lê Quý, Lê Trung… vừa tiếp tục làm quản giới xứ Cửu Chân vừa đi tu, có người được gọi là Trưởng lão có người được gọi là Thiền Chủ (1). Đất đai chùa Hương Nghiêm và của nhà Lê Lương bị xâm phạm. Thái uý Lý Thường Kiệt bấy giờ là Tổng chấn Thanh Hoá

 

(1)Đại Việt sử kí toàn thư có ghi:“ Mùa hạ, tháng tư (đời Trần Thái Tôn 1263 ) cho Lê Cư làm trại chủ Thanh Hoá” có thể Lê Cư là thuộc họ Lê ở đây là con cháu Lê Lương mà Lê Gia chính  phả bỏ sát không ghi hoặc ghi thành tên khác chăng?

phải về tận Kẻ Rỵ để phân xử sự tranh chấp này giữa giáp Bối Lý (tức Kẻ Rỵ) với giáp Viên Đàm (nay thuộc xã Thiệu Viên). Việc đó xảy ra vào mùa thu năm Tân Mùi (1091).

            Có hai chàng Phò Kỳ Lang họ Thiều và họ Tô lâu xin lại khoảnh ruộng của tiên tổ là quan Bộc xạ. Vua xet lời lâu bèn trả lại giáp Bối Lý cho thuộc về họ hàng Lê công. Do đó, mùa thu năm ấy, Thái uý Lý công đến tận nơi cho chuộc ruộng đất, lập bia đá và chia ruộng cho hai giáp Bối Lý rồi ông lại tới đầm A Lôi chia một nữa đầm cho giáp Bối Lý, một nữa đầm cho giáp Viên Đàm. Thái uý còn truyền bảo lần nữa cho hai giáp biết không được lấy một lá rau, một ngọn cỏ ở hai bên bờ đầm. Ngay lúc đó lại ra lệnh giao về cho dòng dõi nhà họ Lê (1)”.

            Dưới triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông… con cháu Lê Lương nhiều người nổi tiếng. Đất Kẻ Rỵ – Kẻ Chè được cả nước là một nơi danh thắng người giỏi, nghề hay; xe ngựa của các vua chúa, quan lại đi về tấp nập, cảnh tượng hết sức phồn thịnh. Các nhân vật nổi tiếng ở đây còn ghi lại có Thái uý Lưu Công (2). Đạo Dung thiên sư, các chàng Phò Kỳ Lang họ Thiều và họ Tô.

 

 
 

 

(1) Văn bia chùa Hương Nghiêm

(2) Sách thơ văn Lý Trần khẳng định Lưu Thái uý tức là Lưu Khánh Đàm, một nhân vật quan trọng trong các triều vua Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông. Đời Lý Nhân Tông, ông là một trong mấy người được nhận cố mệnh với Lê Bá Ngọc, Mâu Du Đô, Đại Việt sử ký toàn thư ghi ông chết đến ( hai lần ): Tháng ba năm Bính Thìn và tháng 11 năm Tân tỵ (113 và 116). Có lẽ là nhầm Lê Gia chính phả lại ghi công trạng, chức vụ của Đạo Dung (Lê Chính) y hệt như thái uý họ Lưu.

           

Ở Kẻ Rỵ – Kẻ Chè ngày nay không tìm thấy dấu vết gì về ông thái uý họ Lưu này cả, song văn bia chùa Hương Nghiêm thì ghi chép tỉ mỉ: ông được phông đến “thuợng trụ khai quốc công, thực ấp 6.000 hộ, thực phong 3.000 hộ”.

Tiếp tục