Thông tin
 
Thống kê
 22 Hôm nay
 146 Tuần
 525 Tháng
 7.532 Năm
 46.655 Tất cả
1 Online
 
Video
 

kẻ rị kẻ chè (Phần 2-tiếp)

Các công trình kiến trúc, những tác phẩm điêu khắc nghệ thuật. Ở Kẻ Rỵ– Kẻ Chè kho còn giữ được bao nhiêu. Những cái còn lại thì hư hỏng đã được sửa sang nhiều lần hoặc mới tạo dựng (phần nhiều từ thời Tự Đức lại đây), dấu vết cổ xưa không có mấy.

 Theo chí nhớ của nhân dân, lại căn cứ vào sách vở bia kí thì những công trình nghệ thuật có giá trị như chùa Hương Nghiêm, dinh cơ nhà họ Lê Lương, dinh cơ các Trà Quận Công… là đồ sộ và đẹp. Những thứ đó ngay nay chỉ còn dấu vết ở nền móng xót lại và hình thể quy mô của cả khu đất ở xưa kia. Bia chùa Hương Nghiêm thời Lý cũng bị huỷ đi vài chục năm nay. Chuông chùa Hương Nghiêm to lớn, người đứng lọt vào trong được, trên mặt bia có nhiều “chữ nho” cũng bị phá từ sau cách mạng. Thỉnh thoảng, các gia đình Kẻ Rỵ – Kẻ Chè  đảo được đồ sành sứ đời Lý – Trần và các thời trước đó rất nhiều; có khi một hố 2 mét vuông sếp chật các bình sứ to nhỏ với các kiểu dáng khác nhau, chắc là các lọ đựng tro hoặc “xã lỵ” của các sư chùa đã tịch trước kia; có khi đào được cả con sấu bằng đá tráng men sứ… những  cái đó biểu hiện một cuộc sống sầm uất, phong phú của Kẻ Rỵ – Kẻ Chè xưa kia, một đời sống văn hoá rất sôi động  nhiều hình vẻ.

            Ngày nay, đến Kẻ Rỵ – Kẻ Chè ta chỉ còn được thấy đình chùa, tượng đồng, bia đá sót lại, mà văn hoá nghệ thuật không cao lắm.

1. Chùa ông HưuAnchor[1]: Đó là tên gọi quen của dân làng nhân dân cũng nói đây là nhà thờ của Lê Văn Hưu. Cho đến sau cách mạng tháng tám, nhà thờ này cũng là nhà chùa , có sư cụ trụ trì tên là Đào Thiện Trí, vuờng chùa rộng rãi cây cối rậm rạp, có nhiều cây cổ thụ to hàng mấy người ôm. Chùa có hai lớp: Lớp trong là ngôi nhà ba gian thờ phật, có bàn phật trên đặt những ông tượng gỗ hai bên có hộ pháp; chính giữa treo bức gỗ khắc chữ Hán “Kiền nê Sơn Hương nghiêm tự. Ba gian này với bức chữ khắc trên gỗ nay vẫn còn, gần đây Ty văn hoá Thanh Hoá mới cho sữa chữa lại. Quy mô cũ vẫn đấy song di vật cổ không còn được bao. Thật đáng tiếc. Lớp ngoài là bảy gian tiền đường dựng trên nền cao tiếp với ngôi nhà kể tiếp trên. Sau cách mạng 7 gian tiền đường này được đỡ ra để làm một ngôi nhà tách biệt cạnh chùa, dùng hội họp cho xã, cũng là nơi tiếp các đoàn khách về thăm “nhà ông Hưu”. Trên nền tiền đường hiện còn lưu lại hai cột đá treo chuông. Theo trí nhớ của nhân dân thì gần đây, khi tiền đường chưa phá, trong đó vẫn còn bia chùa Hương Nghiêm đối diện với chuông lớn. Ngoài các ngôi nhà trên, còn có nhà tổ làm lùi lại phía sau bên tả chùa.

            “Chùa ông Hưu” đặt trên khu đất rộng, bằng phẳng mặt trước hướng tới núi Nưa (Nông Cống), sau lưng là sông nàng Lê (Hương Giang), chung quanh không có dấu tích gì đặc biệt. Quy mô và thể thức ngôi chùa được mô tả khá tỉ mỉ trong văn bia chùa Hương Nghiêm (xin xem phần phục lục)

2.Đền Thánh Khổng: Ngôi đền đặt ở giữa làng cạnh con đường chính qua xóm đình của làng Chè. Ngôi đền này mới xây năm 1943, khánh thành năm 1946 kiến trúc mới mẻ, không có gì đặc biệt ngoài quy mô to lớn. Đền kiến trúc theo kiểu “chữ đinh”, bên ngoài là một phòng rộng không cột, tiếp đó là ba gian chạy dọc, gian giữa là sập hội đồng. Gian này cách với gian trong cùng một lần cửa. Gian trong cùng đặt tượng thánh Khổng và các đồ tế khí. Hai vị tiên hiền họ Lê và họ Vũ thì thờ ở hai bên bệ gạch của gian ngoài cùng. Mặt tiền của ngôi đền xây đắp theo kiểu “lân thời”, các ô chắn mái có đắp nổi ba cảnh của tổ sư đi lấy kinh Phật, tổ sư đi lấy đồng và tổ sư truyền nghề đúc đồng. Một bức đại tự đắp nôi nằm chính giữa mặt tiền mang chữ “Tối linh quang từ” (ngôi đền cực thiêng liêng).

Một cảnh trong buổi lễ tế Thánh tại đình làng Chè hàng năm

3. Cột đá treo chuông: Hiện nay trước sân chùa Lê Văn Hưu còn hai cột đá treo chuông . Mỗi cột được đẻo theo hình tháp vuông  4 cạnh , cao 2m85, cạnh đáy 0m46, cạnh trên đỉnh 0m40, mặt bên có đáy 0m30, đỉnh 0m25. Trên đỉnh hai cột đá này có ngàm để  đặt trụ treo chuông. Cột bên phải có 6 hàng chữ nho khắc bên mặt trong, nội dung (dịch) như sau:

            “Ông Lê Văn Nghi người thôn Diên Hào xã Phủ Lý tên chữ là Tính Trạm, xuất gia tu hành năm 31 tuổi lại chùa Hương Nghiêm. Đến năm Ất Dậu 1705 đứng hưng công để tô tượng Phật. Năm Bính Tuất (1706) xây toà thượng diện. Năm ất mùi (1715) sửa tam quan, năm Mậu Tuất (1718) đúc quả chuông lớn, năm Tân Sửu (1721) bản xã mở hội. Bà thân sinh là Lê Thị Ngôi và vợ là Lê Thị Diện cúng 3 thửa ruộng. Đến năm Bính Ngọ (1726) Bảo Thái thứ 7, mùa đông, hai bà lại xây trụ đá để treo chuông”.

4. Tượng đồng Thánh Khổng: Pho tượng này đặt trong chính tẩm đền thờ Thánh Khổng. Cạnh đó có nón đồng, túi đồng và gậy đồng (đồng lờ, đồng trượng). Tượng do dân thợ Kẻ Chè đúc cách đây hơn 80 năm (tức là đầu thế kỷ 20 này). Tượng nặng 6 tạ cao 0m65, có dáng dấp thư sinh, phong thái khá ung dung. Thợ đúc Lê Văn Nhíp cải tượng.

5.Toà Cửu Long: Đây là một khối đồng trang trí gồm 9 con rồng uốn luợn, mỗi con đều nhô đầu ra phía trước, trên đầu mỗi con có một ông phật ngồi theo thứ tự trên dưới. Trên chót là toà sen có ba vị phật tổ ngồi xếp bằng tròn tĩnh tọa. Phật bà ngồi chính giữa. Theo các nghệ nhân đúc đồng kể lại thì có tất cả 18 ông phật như Thích Ca, Dương Niên, Dương Cảnh, Tuyết Sơn, Di Lặc, Huyết Hầu…song ngày nay không còn đủ. Phụ vào toà Cửu Long có ba pho tưọng La Hán, Hộ pháp.

            Khối trang trí bằng đồng này thu gọn trong một bố cục tròn co đường kính 0m30 dưới có bệ đặt nhìn ấm cúng vui mắt.

            Toà Cửu Long này do ông Lê Văn Nhíp, một thợ đúc giỏi ở Kẻ Chè sáng tạo ra cách đây độ 40 năm sau khi khánh thành đền Thánh Khổng.

6. Bia đá: Hiện nay, ở Kẻ Rỵ còn giữ được 5 bia đá (Kẻ Chè  không thấy bia nào) .

a) Bảng nhãn Lê tiên sinh thần bi: tức bia mộ Lê Văn Hưu, người khắc bia là thợ đá Hoàng Đăng Ngũ làng Nhồi (Nhuệ Thôn).

b) Đông Sơn văn từ bi chí: Tức văn bia thánh hàng huyện đặt ở Kẻ Rỵ. Người khắc bia là Hoàng Đăng Ngũ, thợ đá làng Nhồi (Nhuệ Thôn).

c) Tiến sĩ vũ tướng công bi chí: Tức là bia mộ ông Vũ Kiêm ở Cồn Địch. Thợ khắc bia là Lê Hữu Ốc, thợ đá làng Nhồi (Nhuệ Thôn).

d) Trần tiến sĩ mộ trần đạo bi: Tức bia mộ Trần trỗi. Thợ khắc đá là Lê Huy Âm người làng Nhồi (Nhuệ Thôn).

e) Bia Hiền quận công: ở Cồn Mảng. Bia nhỏ, có nắp đậy mặt chữ bằng đá. Bia hiện bị chôn lấp đất nên không đọc được.

Các bia trên đều được khắc đưới thời Tự Đức.



Anchor[1] Thực ra đây là Chùa Hương Nghiệm, còn Đền thờ Lê Văn Hưu nằm trong khuôn viên của Chùa.