Thông tin
 
Thống kê
 22 Hôm nay
 146 Tuần
 525 Tháng
 7.532 Năm
 46.655 Tất cả
1 Online
 
Video
 

kẻ rị kẻ chè (Phần 3)

1) Tổ chức làng xã

  Kẻ Rỵ: Trước cách mạng tháng Tám, Kẻ Rỵ chia ba làng, mỗi làng có các thôn, xóm và ngõ.

Làng Nam có các xóm: xóm Thần Hậu (còn là xóm Thần), xóm Diên Hào.

Làng Trung có các xóm: xóm Phúc Trữ (còn gọi là Ngõ Chữa), xóm Quan Nội (còn gọi là xóm Nội) và xómTuấn.

Làng Bắc: Tên chữ là An Nhân, tên nôm là làng Nhim (không chia xóm).

Các làng ở Kẻ Rỵ không có đình. Mỗi khi họp làng thì họp ở các miếu của Ngũ vị thành hoàng, làng nào thì họp ở miếu làng ấy; hiện tượng này khác với nhiều nơi. Nếu cần họp cả ba làng thì lấy điểm làng trung làm nơi khai hội.

Trước cách mạng tháng Tám, ở Kẻ Rỵ tồn tại hai tổ chức chỉ huy làng xã. Tổ chức thứ nhất là chính quyền Lý Hương theo hệ thống dọc của Nhà nước phong kiến thực dân. Đứng đầu tổ chức này là Lý trưởng. Hội đồng Lý hương do dân bầu và được nhà nước công nhận. Tổ chức này điều hành các công việc được nhà nước cắp đặt như thu thuế, bắt lính bắt phu, tuần giờ, bảo vệ xóm làng, xử đoán các vụ tranh chấp kiện tụng trong phạm vi làng xã. Thời kì 1930 – 1945, bên cạnh Lý hương, bọn thực dân phong kiến còn đặt một tên “Bang tá tại gia” để kiểm soát và đàn áp cách mạng.

Tổ chức thứ hai là tổ chức “Làng Lão” đứng đầu là cụ tiên chỉ. Tiên chỉ của làng là người già nhất làng không kể địa vị, giàu nghèo. Khi cụ tiên chi mất đi người già thứ hai trong làng sẽ thay thế. Dưới cụ tiên chỉ là “ba bàn lão”, mỗi bàn bốn cụ. Căn cứ vào sổ hương âm, tính từ cụ nhiều tuổi trở xuống lấy đủ 12 cụ vào các bàn lão này. Giúp việc Làng lão là các giáp Trưởng, điều hành các việc trong giáp, nhất là việc ma chay của các cụ già. Lang lão chỉ huy mọi việc trong làng, trong họ. Chính quyền Lý hương phải tuân theo trong các việc cắt đặt, nhân các tuần tiết, lệ lạt, đóng góp. Các việc “hành chính”, nhiều khi lý trưởng phải trình cụ tiên chi và được làng lão giám sát. Như vậy, trong phạm vi làng xã, tổ chức Làng lão vẫn có uy tín hơn tổ chức chính quyền.

            Trong sổ hương ẩm ở Kẻ Rỵ ghi:

- Chiếu giữa dành cho cụ tiên chi và quan tước triều đình. Cụ tiên chi 90 tuổi ngồi ngang hàng với tiến sĩ (văn hay quận công võ). Nếu có cả tiến sĩ và quận công ngồi bên “ tả ” (trái) cụ tiên chi ngồi bên “hữu” (phải) với qui ước “nhất tả nhị hữu”.

-Từ đó trở xuống thì tính:

Cử nhân ngồi cùng chiếu với cụ 80 tuổi.

Tú tài ngồi cùng chiếu với cụ 70 tuổi.

Ông đồ ngồi cùng chiếu với cụ 60 tuổi.

Lý trưởng ngồi cùng chiếu với cụ 70 tuổi.

Như vậy, Lý trưởng cũng chỉ là bậc thứ ba trong làng phải theo sự chỉ bảo của các cụ nhiều tuổi. Thật ra, những ngày đêm trước cách mạng tháng Tám tổ chức lý hương lại lấn át tổ chức Làng lão.

            Ngoài tổ chức chính quyền và tổ chức làng lão trên. Kẻ Rỵ còn có các tổ chức phường hội “con trai vào phường con gái vào hội”. Phường Nam (tức phường con trai) có hai loại: thanh niên và trung niên. Con trai tuỳ lưa tuổi, rủ nhau ghép phường một cách tự nguyện để giúp đỡ nhau, trong việc làm ăn, xây dựng gia đình. Phường nam, trong những ngày trước 1945 sinh hoạt không chặt chẽ.

            Hội nữ gồm các cô gái chưa chồng. mỗi hội có thể có từ 4 đến 5 người. Mỗi năm, các cô gái trong hội mời bạn cùng hội ăn uống một lần vào dịp “ăn tết lại” .Khi có cô gái trong hội lấy chồng thì các cô khác mỗi cô góp một quan tiền để mừng và ngủ với nhau một đêm. Các cô trong hội lấy chồng hết là hết hội.

            Ngoài Phường nam, Hội nữ ra, Kẻ Rỵ còn có Phường buôn đồng. Cả làng chỉ có một Phường buôn đồng mà thôi. Ai muốn đi buôn thì phải vào Phường. Vào Phường mỗi người phải đóng một quan tiền đồng (bằng 600 đồng kẽm), một trăm trầu và một chai rượu.  Phường buôn chỉ kết nạp đàn ông; Thành viên của Phường phải tuân theo sự quy ước buôn bán của Phường, các ngày lễ lạt và được Phường bảo vệ. Ai không vào Phường mà đi buôn thì phường sẽ khiếu nại với làng, sẽ bị phạt vạ và cấm không được buôn và không được bảo vệ .

            Kẻ Chè: Kẻ Chè  xưa chỉ có 2 xóm chia thành 2 nữa làng: Xóm Hà ( hay còn gọi là Bàn Hà) và xóm Đình.

            Kẻ Chè có hai ngôi đình xong chỉ thờ có một Thành hoàng là Thánh Lưỡng. Thành hoàng thờ ở ngôi đình cạnh sông Hương Giang. Khi có lệ tiết thì dân làng rước về ngôi đình chợ xóm Đình (nơi có chợ bán đồ đồng).

            Ở Kẻ Chè cũng có hai tổ chức: Chính quyền Lý hương và Làng lão. Trong các việc cắt đặt tế lễ, hội hè trong làng, làng lão cũng đóng vai trò quyết định và chính quyền lý hương đóng vai trò thực hiện.

            Kẻ Chè cũng có tổ chức phường song chỉ là “phường tế thánh”. Con trai đến tuổi “ăn chịu” mới được vào Phường. Ai không vào phường thì không được tế Thánh Khổng. Cả làng chia làm hai Phường tế Thánh: Phường toán trên (từ Ngõ Hà đến Ngõ Thị) và Phường toán dưới (từ Ngõ Chữa đến Ngõ Đình). Mỗi Phường có một ông Phường trưởng, hai ông Seo và một ông đầu trai. Ông Seo được làm ruộng làng và các ngày lễ Thánh phải làm cỗ vào các tình tiết (tức là các ngày rằm tháng 8, 3-3, 5-5, 8-4, 30 tết và tết cơm mới). Ông Trưởng phường chỉ huy việc cỗ bàn vào hai dịp lễ Thánh lớn là các ngày 8-4 và 13-9. Ông đầu trai lo việc dầu đèn, hưong nến …

            Ngoài tổ chức phường, Kẻ Chè còn có tổ chức Giáp. Tổ chức này không tham gia trong tế Thánh (tất nhiên, trai các giáp đều có nằm trong Phường tế Thánh). Chỉ khi tế Bản thổ thành hoàng và việc ma chay trong phạm vi giáp thì giáp mới hoạt động.

            Con trai đến 18 tuổi gọi là “Trai xích hậu”, đến tuổi “ăn chịu”hay còn gọi là tuổi “cầm nùn”phải đi tuần riết, tháng nào cũng phải đi nhất là các tháng “củ mật” (tức là các tháng cuối năm).

            Sổ hương ẩm của Kẻ Chè cũng giống như bên Kẻ Rỵ. Các cố lão và quan viên chức sắc, căn cứ vào hương ẩm, đều có cỗ ăn và cố dựa (tức là cỗ biếu). Trong tế lễ, một con lợn làm thịt, sau khi tế xong, ai được hưởng phần nào, định lượng bao nhiêu, thủ sỏ, tràng hoa, bầu dục, phần ai đều có ghi vào sổ hương ẩm cả. Bên Kẻ Rỵ cũng như vậy.

            Các Khoán ước của Kẻ Chè (cũng như Kẻ Rỵ) hiện không cong nữa. Khoán ước (hay hương ước) của Kẻ Chè  ghi đầy đủ các luật lệ quy định trong làng, có luật lệ truyền từ xưa, có luật lệ bổ sung sau này. theo các cố kể lại, khoán ước đó được bỏ vào “ống khoán” (tức là ống luồng to, sơn son, vẽ rồng phượng) và đặt trên bàn thờ Bản thổ thành hoàng. Ai vi phạm khoán ước thì làng bắt nộp vạ hoặc phạt tiền, hoặc phạt trầu rượu, xôi gà … (việc ghi lại các khoán ước, hương ước, hương ẩm là dựa theo trí nhớ của các bậc già cả, trước kia đã tham gia việc làng nhiều lần).

            2. Tục lệ trong các làng: Tục lệ trong các làng ở Kẻ Rỵ và Kẻ Chè đại lược cũng giống tục lệ phổ biến trong các làng xã ở đồng bằng Thanh Hóa. Từ tục kiêng trong các tuần tiết, quan niệm tốt xấu về các ngày trong tháng, năm cho đến việc sinh hoạt, làm nhà, làm cửa, hôn nhân, sinh đẻ, tang ma… không có gì khác các nơi trong tỉnh. Tất nhiên, về mức độ và hình thức của các tục lệ có một số điểm khác biệt. Các tục lệ này, ngày nay không còn tồn tại được bao nhiêu.

a)Tục: Xưa kia, Kẻ Rỵ – Kẻ Chè  có các tục kiêng sau đây:

-Kiêng đồ trắng khi và miếu Bà (Bạch Y Long) trong ngày hội lễ.

-Kiêng cúng chuối tiêu ở miếu Cả thờ thành hoàng họ Đào.

-Kiêng nói tiếng “quốc” mà gọi là  “xới” sở làng Chè vì thành hoàng là Trung Quốc Vương. Ở làng chè dùng màu đỏ làm “khước”.  Kiêng xin “đỏ” (lửa) lúc hơ cót để đúc đồng (thường hơ cót vào lúc mờ sáng).

Tục kết cha: Làng Rỵ không giao chạ với làng nào trong vùng cả, chỉ có loại chạ “giao lý giao lân” để bảo vệ sản xuất mà thôi. Làng Chè trước có giao chạ với làng Đại Từ (xã Đông Thịnh) vì cũng thờ giọt máu rớt của Thánh Lưỡng xong do xích mích nên đã thôi chạ ngót 100 năm nay.

Tục vọng lão: Lên lão mà không vọng thì không được miễn phu sai lạp dịch. Vào tuổi 50, 60, 70 phải biện cho làng một cỗ xôi gà để làng tế vào dịp sắp ấn hàng năm. Nừu không lam cố thì nạp 32 quan tiền. Vọng 70 thì ngoài cỗ xôi con gà cho làng còn phải làm cỗ mời dân làng. Các cụ 80, 90 được miễn làm cỗ, chỉ biện cho làng 100 mieensg trầu và một chai rượu. Dân làng sẽ biếu mỗi cụ một áo lụa; cụ 80 áo lụa đỏ, cụ 90 áo lụa vàng.

Tục trong ngày tết: Chiều 30 tết dựng cây nêu, vẽ cung tên cày bừa trước cửa, trước sân; giữ lửa đêm 30 tết; kiêng quét nhà sáng mồng một; tránh tiếng động trong ngày tết, cho xay chày “ ăn tết ”.

Tết Đoan Ngọ dùng hoa quả “giết sâu bọ” vào buổi sáng “rang kiến” đổ ở ngã ba đường; nhuộm đỏ móng tay bằng lá vao.

Tang ma:  Chết trước 18 tuổi thì gia đình tổ chức chôn cất. Chết từ 18 đến 30 tuổi thì họ hàng thân thuộc lo liệu. Với người trên 30 tuổ thì họ hàng thuộc giáp nào, giáp ây lo chôn cất. Giáp trưởng được báo chủ đứng lo săm sửa mọi việc: trống kèn, nhà táng…). Cử người khâm liệm, cắt 8 người khiêng căn cứ vào hương ẩm lấy từ cuối sổ lấy lên (gia đinh nào không đi được thì phải thuê người thay), làng văn được miễn việc khiêng vác.  Việc xong hiếu chủ phải mời giáp ăn uống. Gia đình nào xét không đủ sức làm cỗ thì phải sắm lễ ra yết ở miếu Cả để làng xét, nếu làng nhập cỗ tức là miễn cho việc mời làng và giáp ăn uống.

Làm nhà: Có tục giúp đỡ nhau. Khi có gia đình làm nhà, dù to hay nhỏ, mọi người đều đến giúp công không cần mời mọc. Giúp xong, nếu có cơm nước cũng được không thì trầu nước cũng xong. Làm nhà lớn có tục mời cụ 60 trở lên đặt đòn nóc (thượng lương).

Thờ cúng trong nhà: cúng ông táo và thổ công mỗi tháng 2 lần (mồng một và rằm) bằng hương hoa, trầu rượu. Riêng ông táo có lễ cúng vào chiều 23 tháng chạp. Ngoài ra có các tuần cúng sau đây:

-Kỵ giỗ các người đã chết theo ngày chết;

-Cúng tết: từ trưa 30 đến ngày mùng 3 cúng hạ Nêu vào chiều mùng 7;

-Cúng tết đoan ngọ mùng 5 tháng 5;

-Cúng hạ điền và thượng điền;

-Cúng rằm tháng bảy;

-Cúng cơm mới;

-Cúng chạp vào 23 tháng chạp.

b) Lệ:

 Lệ Seo:  Ở làng Chè mỗi Phường cử hai ông Seo trong một năm. Ông Seo được làm ruộng làng, song phải biện mọi cỗ bàn trong các tuần tiết: rằm tháng tám, mồng 3 tháng 3, mồng 5 tháng 5, mồng 8 tháng 4, 30 tết và tết cơm mới. Ngoài ra còn chịu cái lệ 13 tháng 9 “canh lợn tỉnh sinh”. “Canh lợn tỉnh sinh” là lệ riêng mà ông Seo phải chịu. Tối 13 tháng 9, trai làng đến tuổi “ăn chịu” đến nhà ông Seo để canh con lợn sắp đem tế Thánh. Ông Seo phải làm cỗ rất to, đủ cả ninh giò nem luộc… mời trai trong phường đến canh lợn ăn tối hôm đó. Ông Seo phải vui vẻ, lấy lòng trai làng vì nếu một người không chịu ăn thì ông Seo khốn khổ, phải mời chào đủ cách họ mới ăn cho. Mỗi ông Seo phải gánh việc hai năm. Ông Seo được vinh dự làm chánh tế trong kỳ tế thánh. Có chịu Seo thì mới “ăn nói” được với làng nước cho nên “mất nhà cũng phải làm Seo” để cốt được cái tiếng. Dù quan viên hay trùm làng mà không Seo cũng bị coi khinh.

            Lệ xôi rá: Ở làng Chè: Trai làng từ 18 đến 40 trong tuổi “ăn chịu” thì phải làm “xôi giá”, mỗi năm một lần. Quan viên trong làng chấm giải để lấy một giá xôi đoạt giải nhất tế Thánh. Do vậy, việc làm xôi giá rất cẩn thận. Gạo nếp thơm, hạt lúa tốt được xay giã độ 10 cân sàng xảy sạch. Sau đó, lại đem “giã rất khẽ” độ 2 đến 3 ngày, dần xảy sạch sẽ cần độ 8 cân. Lại bỏ lộn lá mây vào giã, sấy sạch, canh nhạt hết các hạt gãy, còn lại các hạt đều nhau, trắng bóng. Lúc đó mới đổ nước vo khẽ, vo và chọn hàng tiếng đồng hồ mới xong. Gạo nếp vo đem đỗ thành xôi và đổ ra cái rá mới. Mỗi năm có đến hai ba mươi rá xôi dự giải. Các cô đi chấm, chỉ lấy một rá để đóng oản cúng. Ngoài ra, còn lấy hai rá làm giải nhì và ba. Mỗi giải được một miếng thịt bàng cái lược thưa. Các rá không được giả thì bày với thịt lợn và tế chung (không đóng oản).

Lệ xuống đồng và lên đồng (hạ điền thượng điền), ở Kẻ Rỵ, sau buổi tế thần vào tết Đoan ngọ, các giáp họp nhau lại để bàn ngày xuống đồng cấy. Ngày đó, thống nhất cho cả làng. Sau đó, các chức dịch lo sắm đồ lễ, còn các giáp trưởng đôn đốc giáp mình chuẩn bị xuống đồng. Ngày xuống đồng, làng làm lễ cáo tế ngũ vị Thành hoàng. Tế xong, ông tiên chỉ cấy thẻ mạ đầu tiên, tiếp đó, dân làng mới được cấy. Tổng các gia đình cỗ bàn cũng được bày ra để các gia tiên và sắm sửa chẩn bị xuống đồng. Trong thời gian cấy, Giáp trưởng có nhiệm vụ đôn đốc cho kịp thời vụ. Cấy xong các giáp phải báo cáo cho cụ tiên chỉ biết để định ngày lên đồng, nếu nhà  nào cấy chưa xong thì làng khiển trách Giáp trưởng, sau đó Giáp trưởng phạt đền gia đình. Lệ làng rất nghiêm nên Kẻ Rỵ cấy rất kịp thời vụ.

Lệ tế cầu phúc:  ở Kẻ Chè.

Lệ cầu phúc ở Kẻ Chè vào hai ngày mồng 9 và mồng 10 tháng Giêng. Các việc chuẩn bị trong năm cũ như bàn việc mở hội to hay nhỏ, bổ bàn đóng góp, tập các trò Chèo chải, Múa đèn. Các giáp trưởng phải lo đôn đốc, chọn người tập trò; làng cắt tập trò; làng cắt người đi mời chạ.

            Sáng mồng 9, làng rước các vị thần linh về đình chợ. Các kiệu chờ ở đầu làng, đến khi kiệu ở Đại Tứ (làng giao chạ) rước đến thì mời cùng rước cả về đình. Trong đình trang hoàng đẹp đẽ, sân đình bày các trò vật, đu, cờ và các trò vui khác, kể cả trò “đen đỏ ”.

Trong hai ngày hội, mỗi ngày làng tế ba buổi: sáng, chiều, tối. Các trò diễn Cỡ chải. Múa đèn được diễn xen  kẽ để tế thần. Vật phẩm tế là xôi đóng mâm lớn, lợn để cả con.

            Hết ngày mồng 10, làng tiễn chạ Đại Từ ra về là hết Hội. Từ sau khi thôi chạ với Đại Từ (cách đây ngót 100 năm), việc tế cầu phúc trở nên đơn giản hơn các trò diễn cũng mất từ đó.

Lệ cơm mới: ở Kẻ Chè.

            Mỗi năm khi lúa nếp chín thì làng ăn cơm mới. Do đó, ngày ăn cơm mới mỗi năm một khác. La trưởng thấy lúa nếp chín phải báo cho cụ tiên chỉ biết để quyết định triệu tập lão làng bàn định ngày ăn cơm mới. Sau đó, các giáp trưởng thông báo cho các giáp biết để dân chẩn bị cỗ bàn. Lệ làng ăn cơm mới có một ngày và là đại lệ (lệ lớn). Làng có tổ chức đồ xôi thi: xôi rá. Cũng như đã trình bày ở trên, lệ xôi rá là một lệ, nằm trong lệ lớn cơm mới này. Rá xôi được giải nhất sẽ đem đúc oản để tế Tánh sư. Các gia đình làm cỗ bàn cúng gia tiên và “liên hoan” vui vẻ.

Lệ Kỵ Tánh sư:  ở Kẻ Chè.

            Tế thánh một năm có hai kỳ: Mồng 8 tháng Tư và mồng 3 tháng Chín. Lệ tế 13-9 là to nhất. Trong lệ này có việc “canh lợn tỉnh sinh ” (như đã nói trong Lệ Seo). Lệ Tế Thánh do hai “phường tế Thánh” đảm đương gọi là phường toán trên (từ Ngõ Hà đến Ngõ Thị) và phường toán dưới (từ Ngõ Chữa đến Ngõ Đình). Trong những ngày này, đền Thánh Khổng được trang hoàng đẹp đẽ, nghiêm cẩn. Lễ tế được tiến hành. Sau buổi lễ, dân làng chọn người có giọng hát hay để hát gọi là “khải thỉnh” (hát mời Thánh). Bài hát khải thỉnh bằng chữ Hán, dài 177 câu. Lại còn có cả “Hát chầu Thánh”. Bài  “Hát chầu Thánh” dài 122 câu bằng chữ Nôm viết theo thể lục bát. Bài “Hát chầu”này có nội dung kể lại sự tích Khổng Minh Không (tức Thánh Khổng, tổ sư nghề đúc đồng).

 Lễ hội mùa: ở Kẻ Rỵ .

Ở Kẻ Rỵ đặc biệt có hội theo mùa: hội mùa xuân và hội mùa thu.

 Hội mùa xuân: Hội mùa xuân Kẻ Rỵ chia làm hai đợt: đợt một làm vào hai ngày làng tế Cầy phúc (mồng 9, mồng 10 tháng hai). Việc chuẩn bị tiến hành từ sau tết. Các  giáp chọn trai chấp kích, chọn người đóng quân cờ (cả nam lẫn nữ) và chọn các đấu thủ cờ để giữ giải cho làng. Ngày hội, các thành hoàng ở miếu Nhị, miếu Tam, miếu Tứ đều họp về miếu Ngũ (miếu Bà) để cùng hội về miếu Cả, tế chung. Hội Cờ Rỵ và các trò vui khác được tiến hành trong hai ngày này. Ngày 9, buổi sáng tế “yên vị”, buổi chiều “tế yết”, buổi tối “tế chầu”.  Sáng mồng 10 là “tế chính”. Vật phẩm tế, ngoài các thứ thông thường còn có lợn luộc cả con, bò thui cả con. Chiều mồng 10 thì tế “đảo đàn”. Tế xong, kiệu giáp nào trở về giáp ấy.

Đợt hai, làng mở hội Cẩu bóng từ mồng 7 tháng ba đến hết mồng 10 tháng ba tại miếu Bà (Bạch Y Long tức miếu ngũ). Trong ngày hội này, làng cũng tổ chức hội Cờ Rậy (như đợt một) và có cả tế nữ quan. Ngoài việc sắm sửa đồ tế của làng, các hội các phường cũng tự nguyện đóng góp tiền bạc để sắm lễ, các gia đình tự nguyện đem cỗ bàn đến cúng tại miếu Bà cúng xong cỗ gia đình nào về gia đình nấy.

Hội mùa thu: Còn gọi là tết cơm mói (Thường tân). Kẻ Rỵ tổ chức tết cơm mới vào tháng chín hàng năm, song không theo một ngày định trước. Lúa nếp phơi khô quạt sạch thì các lão làng định ngày ăn tết.Trong ngày hội này, làng có tổ chức nấu cơm thi, đồ xôi thi. Các giáp căn cứ vào sổ hương ẩm để chọn các cỗ đem ra thi với làng. Làng chọn mỗi thứ ba cỗ đặt giải nhất, nhì, ba để tế thần; các cỗ khác để cúng ở bàn dưới. Giải cho các cỗ là  thỏi thịt nhỏ song đó là phần thưởng quý vì người được giải tin rằng việc làm ăn sẽ khấm khá. Làng hội một ngày sau cả làng cùng vui, các gia đình liên hoan vui vẻ.