Thông tin
 
Thống kê
 17 Hôm nay
 17 Tuần
 283 Tháng
 8.724 Năm
 47.847 Tất cả
1 Online
 
Video
 

DÒNG CHỮ TRÊN TRỐNG CỔ LOA (1)

GIẢI MÃ DÒNG CHỮ TRÊN TRỐNG CỔ LOA

PGS- Tiến Sỹ Trịnh Sinh

PGS-TS Trịnh Sinh và chủ cơ sở đúc đồng Đạo Thuý

Trong chuyến đi làm vic và nghiên cu về nghề đúc đồng ở Thanh Hoá pgs – ts Trịnh Sinh đã đến cơ sở đúc đồng Đạo Thuý, sau buổi làm việc về Hà Nội ông đã gửi cho cơ sở bài viết mà ông nghiên cưú về chiếc trống đồng Cổ Loa . CS Đúc đồng Đạo Thuý xin được trân trọng giới thiệu .

 

                                                                                       trống đồng Cổ Loa

 Ngày 20 tháng 6 năm 1982, trống Cổ Loa và một khối lượng lớn những hiện vật chôn theo bên trong lòng trống đã được phát hiện ở khu vực Mả Tre, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội (Nguyễn Giang Hải và Nguyễn Văn Hùng 1983: 31-32).

Trống có kích thước lớn: đường kính mặt 73,8 cm chiều cao 53,0 cm thuộc loại những trống Đông Sơn đẹp nhất, có thể xếp vào nhóm A1, tương đương với các trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà (Phạm Minh Huyền, Nguyễn Văn Huyên và Trịnh Sinh 1987: 47).

Một loạt những đồ đồng chứa đựng trong lòng trống Cổ Loa, có nhiều dạng như thành phẩm, bán thành phẩm, cả những vật phẩm thuộc dạng "đồng nát" cũng chiếm số lượng lớn. Đó là những lưỡi cuốc, lưỡi cày, mai, thuổng, đục, nhíp, rìu xéo, giáo, dao găm, mũi tên 3 cạnh, mảnh trống đồng có tượng cóc, mảnh thạp, tiền đồng "Bán Lạng" và có đến 600 mảnh đồng vụn.

Một năm sau phát hiện Cổ Loa, thầy và trò trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội (nay là trường Đại Học Khoa học và Nhân Văn Quốc Gia) vẫn sưu tầm được thêm nhiều đồ đồng vốn được chôn theo trong lòng trống Cổ Loa nhưng bị thất lạc ngay lúc phát hiện ra trống. Đó là 47 lưỡi cày, mảnh lưỡi cày, cuốc, rìu, giáo, mảnh thạp, mảnh trống ( Nguyễn Xuân Mạnh 1983: 105-106).

Phát hiện Cổ Loa năm 1982 có tầm vóc quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử dân tộc ta ( không những ở chỗ cung cấp một khối lượng cực lớn đồ đồng Đông Sơn được chôn tập trung như vậy, ở lịch sử ngành luyện kim đồng thau mà còn chứa chất nhiều vấn đề hấp dẫn. Một trong những vấn đề đó là dòng chữ cổ khắc ở mặt trong chân trống

Ngay từ khi chỉnh lý hiện vật, các nhà khoa học đã biết đến sự có mặt của dòng chữ này và ý nghĩa quan trọng của nó: chữ khắc trên chân trống Cổ Loa cũng có khả năng soi sáng, trong một chừng mực nhất định về vấn đề niên đại. Do trống han gỉ, chữ chưa đọc được, còn phải tiếp tục nghiên cứu. Qua so sánh tự dạng, bước đầu có thể thấy thời gian xuất hiện loại chữ này vào giai đoạn Tần Hán ( Nguyễn Giang Hải, Nguyễn Văn Hùng 1983: 28).

Từ sau khi biết được sự có mặt của dòng chữ cổ trên trống Cổ Loa, các nhà khảo cổ học đã rất lưu tâm đến vấn đề "đọc", giải mã những gì người xưa qua văn tự gửi gắm lại. Tuy vậy, hơn chục năm sau khi phát hiện cũng chưa có bài viết nào công bố kết quả nghiên cứu về vấn đề này.

Trong Hội nghị thông báo khảo cổ học năm 1995, Nguyễn Duy Hinh là người đầu tiên chính thức có khảo luận về dòng chữ này với tiêu đề "Dòng chữ Hán khắc trong lòng trống Cổ Loa I" (Nguyễn Duy Hinh 1995)(Hình 1: Xem bản dập của Nguyễn Duy Hinh)

Tác giả đã xới lên được những vấn đề lý thú về tự dạng từng chữ một và ý nghĩa của nó. Tuy vậy, với những tài liệu có trong tay, khi giải mã chữ trên trống Cổ Loa, tác giả đã gặp phải một số "vấn đề nan giải" và khi tìm ý nghĩa của dòng chữ này, tác giả đã thấy: "rõ ràng trục trặc ở đâu đó, cần tiếp tục nghiên cứu. Trục trặc thứ nhất là ở đơn vị đo lường. Trục trặc thứ hai là ở cách đọc và lý giải" (Nguyễn Duy Hinh 1995) 

Sau công trình khảo cứu lý thú của Nguyễn Duy Hinh, chúng tôi cho rằng vấn đề "đọc" chữ trên trống Cổ Loa là rất hay và cần thiết.

Chắc chắn dòng minh văn người xưa khắc phải biểu thị những thông tin xúc tích và chính xác. Và, hơn nữa phải hết sức lô gic, thậm chí chỉ có tính đơn nghĩa. Điều đó khác với hoa văn hay nhiều hình thái nghệ thuật khác, nhiều khi mang tính đa nghĩa, tượng trưng, giàu cảm xúc.

Vì vậy, tháng 5 năm 1996, được sự giúp đỡ của Bảo Tàng Hà Nội, chúng tôi đã trở lại tiếp xúc trực tiếp với trống Cổ Loa, làm lại khâu tư liệu với "tham vọng" giải mã được dòng chữ này. Sau đó, những gì nghiên cứu bước đầu, chúng tôi đã công bố trên tạp chí Xưa và Nay với tiêu đề " Hà Nội xưa qua dòng chữ cổ " (Trịnh Sinh 1996: 13). Tư liệu chúng tôi dựa vào để giải mã là quyển Tự điển Trung Việt của Văn Tân do nhà xuất bản Sự Thật xuất bản năm 1956.  

Tháng 3 năm 1998, nhà khảo cổ học Nhật Bản Yoshikai khi đến thăm Việt Nam có nghiên cứu và dập hoa văn dòng chữ này. Ông cũng gợi ý cho chúng tôi một vài vấn đề quanh việc nhận dạng một vài chữ.

Cho đến nay, sau một phần tư thế kỷ phát hiện trống Cổ Loa, chúng tôi có thêm một vài suy nghĩ về dòng chữ cổ. 

 

Bí ẩn sau những nét chữ

                                                  Dòng chữ khắc chìm bên trong trống đồng Cổ Loa

Dòng chữ Hán được khắc thành một hàng dọc bên trong lòng trống ở vị trí song song và gần mép chân trống. Chiều dài cả dòng chữ là 21 cm. Mỗi chữ có kích thước trung bình: mỗi chiều khoảng 1-1,5 cm. Nét khắc sâu khoảng 0,5-1 mm. Hiện trạng phần chân trống bị gỉ nhiều làm cho các nét chữ khó đọc. Thậm chí ở phần đầu dòng, mức độ gỉ nát đã làm cho vài nét chữ bị ăn mòn, có thể đã làm biến mất cả một chữ. Ở phần cuối dòng thì mức độ gỉ ít hơn, nét chữ sắc, dễ đọc.

Khi mới phát hiện ra trống, các nhà khoa học đã tẩy gỉ bằng phương pháp cơ học, vì thế đã tìm ra được dòng chữ. Nhưng cũng chính vì lý do đó mà đã lại làm ảnh hưởng đến các nét chữ.

Chúng tôi đã tẩy gỉ sơ bộ bằng hoá chất với nồng độ nhẹ: dùng a xít clo hydric (HCL) pha loãng 3 % tẩy gỉ nhẹ khu vực có chữ. Phương pháp này đã giúp cho những nét chữ còn lại sắc nét hơn, khắc phục phần nào những mấp mô, cao thấp do gỉ đồng trong quá trình ô xy hoá tạo ra làm biến dạng ban đầu. (Hình 2: Xem bản dập của Yoshikai sau khi trống đã được tẩy gỉ)

*

            *     *

Căn cứ vào tự dạng, Nguyễn Duy Hinh và nhà nghiên cứu khảo cổ Từ Tích Đài ở Thiểm Tây, Trung Quốc đã xác định dòng chữ này là minh văn thời Tần Hán, hoặc nói chính xác là thuộc minh văn thời Hán (Nguyễn Duy Hinh). Cũng theo các nhà khoa học này thì quy cách minh văn đồ đồng thời Hán đa số ghi lại năm, trọng lượng, dung lượng, ký hiệu (đánh số) thứ bao nhiêu.

Học giả Từ Tích Đài đã đọc là: "Trọng tứ thập bát, đệ nhất bách nhị ?, Dung bách bát thập nhất thạch". Có nghĩa là: Trọng lượng bốn mươi tám, đánh số thứ một trăm linh hai ? , Dung lượng một trăm tám mốt thạch.

Một học giả Trung Quốc nữa đọc có khác mấy từ, đó là: "Trọng tứ thập cân… Ngọc bách bát thập nhị". Có nghĩa là: Trọng lượng bốn mươi cân… Ngọc ? một trăm tám mươi hai.

Từ những giải nghĩa trên, đã dẫn đến vấn đề trọng lượng.

Theo Nguyễn Duy Hinh, nếu giải nghĩa rằng trọng lượng 48 (Từ Tích Đài) hoặc 40 cân đều không phù hợp với trọng lượng thực tế của trống Cổ Loa (72 kg), vì theo sách "Độ lượng hằng sử" của Ngô Thừa Lạc (xuất bản năm 1957) thì từ đời Tần đến Hậu Hán, một cân chỉ dao động từ 0,5165 đến 0,4455 kg. Nghĩa là theo cách giải nghĩa trên áp dụng vào trống Cổ Loa thì trống chỉ có trọng lượng khoảng 20 kg, khác xa so với thực tế.

Vậy là vấn đề trọng lượng giữa thực tế và cách lý giải có khoảng cách khá xa nhau, ít ra cũng từ 2 đến 4 lần, là điều không thể có lô gic.

Về vấn đề dung lượng, Nguyễn Duy Hinh cũng giải nghĩa rằng: dung lượng 181 thạch, nếu cũng theo tài liệu của Ngô Thừa Lạc thì có thể tính được như sau:

Vào thời Tần-Hán, 1 thăng (cứ 100 thăng bằng 10 đấu và bằng 1 thạch) ngang bằng với 0,3425 lít.

Vào thời Vương Mãng-Hậu Hán thì 1 thăng ngang bằng 0,1981 lít.

Vậy, theo số đo thời Tần-Hán thì 181 thạch quy ra là 6199,25 lít và theo số đo thời Vương Mãng-Hậu Hán thì quy ra là 3585,61 lít.

Nguyễn Duy Hinh cũng sơ bộ tính dung lượng thực tế của trống Cổ Loa (Nguyễn Duy Hinh 1995) bằng cách giả định trống là một hình viên trụ (mặt trống có đường kính 73,8 cm chiều cao 53 cm) và tính ra được thể tích là 226,80 lít (tức 226,80 dm3).

Vậy là, giữa cách tính dung lượng trên trống Cổ Loa mà Nguyễn Duy Hinh công bố và tính theo cách đọc 181 thạch có một quãng cách khá xa: cách đến hơn 27 lần (theo chuẩn dung lượng thời Tần-Hán) và cách đến gần 16 lần (theo chuẩn dung lượng thời Vương Mãng-Hậu Hán).

Cũng như trọng lượng, vấn đề dung lượng lại không có sự phù hợp giữa thực tế và cách lý giải chữ viết như đã nêu trên.

Ngoài đoạn ghi trọng lượng (ở đầu dòng) và dung lượng (ở cuối dòng) thì đoạn giữa dòng cũng là đoạn bị gỉ nhiều, nét chữ khó đọc và có sự không thống nhất giữa các học giả trước đây.

Theo Nguyễn Duy Hinh thì chữ "Đệ" đặt không đúng, mà có thể đấy là chữ "Toán" hay chữ "Mạc". Chữ "Bách nhị" cũng không phải như vậy. Có thể chữ "Dung" chỉ dung lượng cũng không đúng mà có lẽ đấy là chữ "Vương" hay chữ "Ngọc".

Tuy vậy, nếu đọc theo dạng chữ nào thì vấn đề ý nghĩa của cả dòng chữ vẫn chưa được giải quyết một cách hợp lý.

 

*

            *     *

Thực ra, không chỉ trống đồng Cổ Loa là trống đồng Đông Sơn duy nhất được khắc chữ Hán mà trên chiếc trống khai quật được ở ngôi mộ số 1 địa điểm La Bạc Loan, huyện Quý, tỉnh Quảng Tây cũng được khắc chữ Hán ở phần chân trống (Đội công tác văn vật khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây 1978: 25-34). Nguyên văn dòng chữ Hán cũng chỉ rõ trọng lượng "Bách nhị thập cân"(120 cân), chiếc trống này cũng thuộc loại nhóm trống A theo phân loại trống Đông Sơn (Phạm Minh Huyền, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Sinh 1987: 41-65) với những hoa văn đẹp, rất gần gũi với trống Cổ Loa như: chim Lạc đang bay, người mặc áo lông chim chèo thuyền, chim ngậm cá đứng ở đầu thuyền, thân trống cũng có người mặc áo lông chim…

Tại La Bạc Loan, ngoài trống đồng còn có một số đồ đồng cũng được khắc chữ Hán ghi lại trọng lượng và dung lượng như sau:

Hiện vật ghi trọng lượng có:

-         Chiếc chuông M1-35 ở giữa thân có khắc chữ "Bố bát cân tứ lạng" (8 cân 4 lạng Bố).

-          Chiếc chuông đồng M1-36 ở giữa thân khắc chữ "Bố thất cân" (7 cân Bố).

-          Chiếc thạp đồng (dạng thạp Đông Sơn) có ký hiệu M1-4 ở giữa thân khắc chữ "thập tam cân" (13 cân).

Hiện vật ghi dung lượng có:

-         Chiếc đỉnh M1-28 ở mép ngoài miệng khắc chữ "Nhị đấu nhị thăng" (Hai đấu hai thăng)

-         Chiếc đỉnh M1-30 ở mép trong miệng khắc chữ "Nhị đấu thiếu bán" (Hai đấu kém một nửa)

-         Chiếc đỉnh M1-31 ở trên thân khắc chữ "Tích nhị đấu nhất thăng" (Hai đấu một thăng Tích)

-         Chiếc đỉnh M1-32 ở trên thân khắc chữ "Nhất đấu cửu thăng" (Một đấu chín thăng). Cũng trên thân chiếc đỉnh này còn khắc dòng chữ "Phiên nhị đấu nhị thăng" (Hai đấu hai thăng Phiên) và cả dòng chữ "Tích nhị đấu đại bán thăng" ( Hai đấu hơn nửa thăng Tích"

Theo các tác giả, ngoài những con số chỉ dung lượng, trọng lượng thì các từ Bố, Tích, Phiên là để chỉ các địa danh địa phương đương thời. Đáng chú ý là có thể chuẩn dung lượng ở các địa phương vùng này có thể hơn kém nhau chút ít. Vì thế, trên cùng một chiếc đỉnh mang số ký hiệu M1-32 lại có những số đo khác nhau (tuy chênh lệch không nhiều) về dung lượng: 19, 22 hay 20,5 tuỳ theo là đo ở địa phương có tên là Phiên hay Tích…

Như vậy, không chỉ trống đồng Cổ Loa mà trống đồng La Bạc Loan và đồ đồng ở đây cũng có minh văn ghi lại trọng lượng và dung lượng những đồ đồng nàyvà đó cũng là hiện tượng phổ biến của thời Tần Hán như học giả Từ Tích Đài nhận xét.

Trở lại những dòng chữ trên trống Cổ Loa, ắt hẳn cũng không nằm ngoài quy luật chung này, có khả năng dòng chữ ghi lại trọng lượng và dung lượng. Vấn đề là "đọc" như thế nào cho đúng với ý nghĩa mà người xưa chủ định ghi lại mà thôi.

 *

  *     *

Sau khi tẩy gỉ trống đồng Cổ Loa, chúng tôi có dịp may giám định lại dòng chữ.

Trước tiên, theo các tác giả trước đây thì chữ cuối cùng là chữ "Thạch"( mặc dù rất mờ) thì sau khi tẩy gỉ lại hoàn toàn không có, mặc dù chữ "Nhị" cạnh đó được khắc rõ nét.

Thứ nhì, xét khoảng cách các chữ tương đối hợp lý. Vậy mà sau chữ thứ nhất (chữ "Trọng") thì có khoảng trống có thể từng có một chữ nữa. Nhưng phần khoảng trống này đã bị gỉ nhiều, làm cho chữ đó hầu như biến mất. Để đoán định chữ này chỉ còn cách duy nhất là dựa vào lô gic của cả dòng để đoán định mà thôi.

Gỡ "cuộn chỉ" rối tung này, theo chúng tôi phải làm từng bước:

1- Trước tiên phải lọc ra những chữ rõ ràng cả về nét và nghĩa. Chữ thứ nhất, đầu dòng là chữ "Trọng"(    ) chỉ trọng lượng, chữ này đủ nét và không thể nhầm với các chữ khác được. Các tác giả giải mã trống Cổ Loa từ trước tới nay đều đọc như vậy, không có trường hợp đọc khác. Vì thế, có thể thấy chữ này được giải mã thành công và cũng là cơ sở để đoán định những chữ khác.

Ba chữ cuối dòng (sau khi tẩy gỉ) cũng đủ nét và rõ ràng, có ý nghĩa là các chữ "Bát thập nhị"(                 ) , có nghĩa chỉ số lượng là: tám mươi hai.

2- Ngoài những chữ trên, những chữ còn lại phải được xem xét từng chữ một, trên nhiều khía cạnh.

Ngay trên 3 chữ cuối cùng "Bát thập nhị" là chữ mà các học giả trước đây cho là chữ "Bách"(     ). Nếu như vậy thì khi ghép lại sẽ là "Bách bát thập nhị" (182). Câu này sẽ không ghép được vào chữ "Trọng" ở đầu dòng được vì giữa đó còn có nhiều chữ nữa. Vì thế, khó lòng con số 182 lại chỉ con số trọng lượng. Vả lại, cái gọi là chữ "Bách" lại không giống hoàn toàn chữ "Bách". Phân tích các nét trên trống đồng cho thấy: nét ngang thứ hai từ trên xuống dưới lẽ ra phải thẳng thì lại gấp khúc hình mái nhà (giống bộ nhân).

Theo chúng tôi, đây phải là chữ "Dung" (     ) thì mới đúng. Chỉ thiếu một vài chấm nhỏ mà trong quá trình khắc, nét không sâu lắm nên đã bị mờ hay gỉ mất.

Nếu là chữ "Dung" thì đoạn câu đó sẽ được đọc là "Dung bát thập nhị", có ý nghĩa là Dung lượng của trống là 82 (có khả năng là 82 đấu).

Dung lượng này có thể kiểm tra được bằng thực tế vì Dung lượng của trống Cổ Loa là không đổi (trống còn nguyên lành vì thế có thể đo được và làm phép so sánh)

Thực ra, nếu có điều kiện làm thực nghiệm xem dung lượng (thể tích) của trống Cổ Loa có phù hợp với số đo 82 đấu không, bằng cách "đong" một lượng cát hoặc nước có thể tích quy ra đúng như vậy, xem trống Cổ Loa có chứa vừa đúng không là câu trả lời chính xác nhất. Nhưng tiếc rằng trong điều kiện hiện nay, việc thực hiện điều đó không thể được.

Tuy nhiên, vẫn còn có một cách để biết được dung lượng thực của trống Cổ Loa, dựa vào cách tính toán theo các số đo trống Cổ Loa được thể hiện trên bản vẽ kỹ thuật của trống này (Phạm Minh Huyền, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Sinh 1987: Hình vẽ 4). Chúng tôi đã phân ra 4 phần A,B,C và D để tính thể tích từng phần rồi gộp lại như sau: Hình 3

Phần tang trống tách ra làm 2: Phần trên của tang, gần giống hình nón cụt (Phần A). Phần dưới của tang, cũng được coi là hình nón cụt, nhưng lộn ngược (Phần B). Các phần này được tính theo công thức tính thể tích của hình nón cụt như sau:

        p

V=  ¾  h ( R2 + r 2 + Rr )

        3

Trong đó, V là thể tích, h là chiều cao, R là bán kính lớn (được đo ở độ phình nhất của tang), r là các bán kính nhỏ tức bán kính của mặt trống và của phần thân trống.

Phần thân trống (Phần C) gần giống với hình trụ, được tính theo công thức tính thể tích của hình trụ như sau:

V= R2 h

Trong đó, V là thể tích, R là bán kính trung bình của thân, được đo ở khoảng cách giữa thân và h là chiều cao.

Phần chân trống (Phần D) được coi như hình nón cụt, cũng được tính bằng công thức tính thể tích như ở phần A và B.