Thông tin
 
Thống kê
 22 Hôm nay
 146 Tuần
 525 Tháng
 7.532 Năm
 46.655 Tất cả
1 Online
 
Video
 

DÒNG CHỮ TRÊN TRỐNG CỔ LOA (2)

 

                     GIẢI MÃ DÒNG CHỮ TRÊN TRỐNG CỔ LOA

                                                                                             PGS -Tiến Sỹ Trịnh Sinh

                                           Mặt trống đồng Cổ Loa

Chúng tôi cũng lưu ý đến việc tính thể tích của trống Cổ Loa ở đây là thể tích bên trong của trống. Vì vậy, phải trừ đi phần độ dày của trống, tạm coi là khoảng 1 cm, để tính sát thực tế hơn. Kết quả tính toán đã cho thấy thể tích các phần như sau:

Phần A có thể tích là :

        3,1416

V =  ¾¾¾    ´  6,5 ( 40 2 + 35,9 2 +  40 ´ 35,9)

            3

    =    29.408,6 cm3

Phần B có thể tích là :

        3,1416

V =  ¾¾¾    ´  12,9 ( 40 2 + 27,2 2 +  40 ´  27,2)

            3

    =    46.275,3 cm3

 

Phần C có thể tích là :

 V =  3,1416 ´ 27,22  ´ 22,9

 

    =    53.223,1 cm3

Phần D có thể tích là :

        3,1416

V =  ¾¾¾    ´  9,7 ( 36,5 2 + 29,8 2 + 36,5 ´ 29,8)

            3

    =    33.409,7 cm3

Vậy, Tổng thể tích trống Cổ Loa, tức tổng A, B, C và D là: 162.316,7 cm3, tức là 162,3167 dm3 cũng tức là 162,3167 lít.

Nếu so sánh với quy chuẩn dung lượng của thời Vương Mãng-Hậu Hán mà Ngô Thừa Lạc công bố ( 1 đấu = 1,981 lít) thì trống Cổ Loa có dung lượng là :

 162,3167 lít : 1,981 lít = 81,936 đấu, tức là xấp xỉ 82 đấu.

Có nghĩa là, bằng phương pháp đo lường thực tế, dung lượng thực của trống Cổ Loa khoảng 82 đấu, đúng với con số ghi trên chân trống Cổ Loa : 82 ("Dung bát thập nhị")

Để kiểm tra cho chắc chắn hơn, chúng tôi so sánh với tài liệu khai quật ở La Bạc Loan (Đội công tác văn vật khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây 1978: 25-34)

Tổng hợp các đồ đồng có khắc hoạ minh văn ghi lại dung lượng ở đây, đối chiếu thực tế mà các nhà khảo cổ học Quảng Tây đã đo thể tích từng hiện vật này, chúng tôi lấy con số trung bình 1 đấu La Bạc Loan là 2,0129 dm3 (lít). Nếu lấy con số thể tích thực tế của trống Cổ Loa theo sự tính toán của chúng tôi để quy ra theo hệ số dung lượng của đồ đồng La Bạc Loan thì được kết quả như sau:

 162,3167 lít : 2,0129 lít = 80,6382 đấu, cũng tức là xấp xỉ con số 82 đấu (chênh nhau 1,6 % không đáng kể) là con số mà trên trống đồng Cổ Loa đã khắc.

Vậy là, các tài liệu đã cho thấy trống Cổ Loa, đồ đồng La Bạc Loan và nhiều đồ đồng khác thời Vương Mãng-Hậu Hán đều có minh văn ghi lại dung lượng theo quy chuẩn đương thời: 1 đấu khoảng 1,981 lít (khác số đo chuẩn dung lượng của thời Tần Hán trước đó: 1 đấu khoảng 3,425 lít)

Nếu vậy, hệ quả rút ra được: chắc chắn, đoạn cuối cùng của minh văn trên trống Cổ Loa chỉ có duy nhất cách giải nghĩa là các chữ "Dung bát thập nhị"

Trong dòng chữ trên trống, đã có chữ "Trọng", chữ "Dung", còn thiếu chữ "Đệ" là tương đối đủ theo quy cách của các minh văn cùng thời.

Theo cách đọc của học giả Từ Tích Đài, thì chữ "Đệ" ở đoạn giữa: "Đệ nhất bách nhị". Khi xem lại chữ này, Nguyễn Duy Hinh đã có lý khi nghi ngờ rằng đó không phải là chữ "Đệ". Theo ông chữ đó là chữ "Toán" hay chữ "Mạc" (Nguyễn Duy Hinh 1995).

Sau khi tẩy gỉ, chúng tôi cũng đồng ý với Nguyễn Duy Hinh rằng chữ đó không phải là chữ "Đệ", bởi vì chữ "Đệ"(      ) phải có một nét dọc ở trục dọc của chữ, nhưng ở đây lại không có. Vả lại, phần chính của chữ cũng không giống bộ "Cung"(    ) mà lại giống với bộ "Nhật"(    ), bộ "Viết"(    ) hay bộ "Mục"(    ). Theo chúng tôi, chữ mà Từ Tích Đài đọc là "Bách" ở đoạn giữa "Đệ nhất bách nhị" lại giống chữ "Đệ" hơn: có cả nét dọc lẫn bộ "Cung". Duy chỉ có bộ "Trúc" ở đầu chữ là bị gỉ nhiều, nhìn lại có vẻ giống chữ "Nhất".

Sau chữ "Đệ" như chúng tôi giải nghĩa thì chữ "Nhị" đã rõ ràng và không phải bàn cãi nữa. Vậy, khi ghép lại có thể là: "Đệ Nhị" (        )

Chữ mà Từ Tích Đài đọc là chữ "Dung" còn Nguyễn Duy Hinh và một chuyên gia Trung Quốc khác đọc là chữ "Vương" hay chữ "Ngọc", thì sau khi tẩy gỉ, chúng tôi thấy nét ngang cuối cùng không được rõ ràng lắm như hai nét trên. Vì vậy, nếu đọc là chữ "Vương" hay chữ "Ngọc" cũng đều không đúng.

Có lẽ theo chúng tôi, đây là chữ "Vu"(     ) hay chữ "Thiên" (     ) hoặc chữ "Can"(     ). Nhưng có lẽ chữ "Vu" có bộ "Nhị" thì có lý hơn.

Ngay trên chữ "Vu" là chữ mà các học giả để trống không đọc, khi chúng tôi tẩy gỉ thì thấy chữ sắc nét còn lại, cho thấy một trong ba khả năng sau: Hoặc là chữ "Lượng" hay "Lưỡng"(    ) hoặc là chữ "Vũ"(    ) hoặc là chữ "Tây"(    ) mà một số nét đã mất không còn nhìn rõ.

Để khách quan khi chọn lựa một trong 3 khả năng, chúng tôi đưa ra các phương án về ý nghĩa có thể của hai chữ mờ này:

1-     Khả năng thứ nhất: Nếu là chữ "Lượng" chỉ đơn vị đo lường (1 cân là 10 lượng) thì không thể đúng được, vì vị trí của chữ "Lượng" này ở cách xa đoạn chữ chỉ trọng lượng.

2-     Khả năng thứ hai: Nếu đọc là chữ "Đệ nhị Lương Vương" hay "Đệ nhị Lưỡng Vương" cũng không ổn vì để ghi niên đại theo ngữ pháp Trung Quốc phải đảo ngược lại. Một ví dụ, "Kiến Nguyên tứ niên (Năm Kiến Nguyên đời Hán Vũ Đế thứ tư) chứ không dùng chữ "Đệ" (Đội khai quật mộ Hán Tương Cương thành phố Quảng Châu 1984: 228). Vả lại, Lưỡng Vương và Tây Vương cũng không rõ là chỉ ông Vua nào trong lịch sử Trung Quốc và Việt Nam.

3-     Khả năng thứ ba: Nếu đọc là"Vũ Vương" thì cũng không thể nào là Vũ Vương- ông Vua Nam Việt Triệu Đà được, vì chữ Vũ trong tên ông Vua này được viết theo cách khác hẳn, là chữ "Vũ"(      )

Theo chúng tôi, có khả năng đó là chữ "Tây Vu"(          ). Có một sự trùng hợp : Tây Vu là tên gọi một huyện của đời Hán được ghi trong một số thư tịch thuộc loại cổ nhất của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam.

Tiền Hán Thư còn chép lại rõ ràng: Tây Vu là một trong 10 huyện của quận Giao Chỉ. Sách Hậu Hán Thư còn miêu tả rõ rệt vị trí và số dân của Tây Vu: Huyện này có đến 32.000 nhà, biên giới cách xa huyện đến hơn nghìn dặm. Đấy là hai quyển sử Trung Quốc còn chép sự tồn tại của Tây Vu.

Quyển sử thuộc loại cổ nhất của nước ta cũng chép về huyện Tây Vu như sau: "Viện (Mã Viện) thấy huyện Tây Vu có 3 vạn 3 nghìn hộ, xin chia làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải, Vua Hán nghe theo" (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Bản Chính Hoà thứ 18: 157).

Vậy là, đoạn giữa của dòng chữ Hán nếu ghép lại, theo chúng tôi có thể là "Đệ Nhị Tây Vu". Nếu giả thiết của chúng tôi là đúng thì có thể rút ra một hệ quả như sau: Trống Cổ Loa là chiếc trống thứ hai của huyện (hay miền đất) Tây Vu. Chắc hẳn phải có chiếc trống thứ nhất (Đệ Nhất Tây Vu). Và như vậy, có thể cho phép suy luận xa hơn nữa: chiếc trống Cổ Loa này chưa chắc đã phải là chiếc trống được thống kê cuối cùng của huyện Tây Vu.

Cũng có một giả thuyết nữa: đây là chiếc trống thứ hai của Tây Vu Vương- là nhân vật còn được truyền tụng trong dân gian và trong sử sách chăng?

Tuy nhiên, sự thống kê hoặc đánh số ký hiệu trên trống đồng Cổ Loa để làm gì và mang ý nghĩa gì, lại là một điều còn phải tranh luận lâu dài.

Đoạn đầu của dòng chữ chưa được giải mã lại là đoạn bị gỉ nát nhiều nhất.

Trong đoạn đầu, chữ đầu tiên là chữ "Trọng" rõ nét, rõ nghĩa cho thấy đằng sau chữ này phải có những chữ mang nội dung chỉ trọng lượng, chứ không thể nào khác.

Các học giả Trung Quốc có sự thống nhất khi đọc hai chữ "Tứ thập"

(                ), theo chúng tôi có lý. Chữ "Tứ" còn thiếu một nét ngang do bị gỉ nhiều, nhưng không thể nào nhầm với chữ khác được. Chữ "Thập" có vẻ bé hơn so với kích thước các chữ khác. Sau hai chữ này thì học giả Từ Tích Đài đọc chữ tiếp theo là "Bát"(      ) còn một học giả Trung Quốc khác đọc là chữ "Cân"(     ) tức là có sự khác nhau ở một chữ này. Đồng thời chữ này cũng bị gỉ nhiều khó đoán định.

Tuy vậy, khi ghép các chữ lại theo Từ Tích Đài giải nghĩa là: "Trọng tứ thập bát" tức trọng lượng 48 (cân?). Điều này sẽ phi lý đúng như Nguyễn Duy Hinh nhận xét nếu như áp vào các chuẩn trọng lượng các đời. Còn nếu đọc như một học giả Trung Quốc khác là "Trọng tứ thập cân" tức trọng lượng 40 cân thì cũng sẽ phi lý chẳng kém.

Theo chúng tôi, mấu chốt của vấn đề là giữa hai chữ "Trọng" và chữ "Tứ" có một khoảng trống đáng ngờ, bị gỉ nát hé mở khả năng đã từng tồn tại một chữ nữa mới hợp trình tự cách đều các chữ của người thợ khắc.

Nếu giả thiết trên mà đúng thì chữ đó là chữ gì? Có thể chẳng còn ai nhìn được nữa vì sự gỉ nát đã làm chữ này bị vĩnh viễn mất đi. Nhưng không phải là không thể đoán định được.

Còn một vấn đề nữa được đặt ra: Liệu dòng chữ ghi trọng lượng ở đây là trọng lượng của bản thân chiếc trống Cổ Loa hay trọng lượng của khối vật chất được chiếc trống chứa đựng (như thóc, gạo, các đồ đồng hay vỏ ốc tiền…). Đã từng có chiếc trống đồng tìm được trong nền văn hoá Điền, Vân Nam trong lòng đựng đầy vỏ ốc tiền như vậy (Bảo tàng Vân Nam: Báo cáo khai quật mộ cổ Thạch Trại Sơn. Mộ M13-2). Để giải đáp câu hỏi này, chúng tôi đã xem xét lại những đồ đồng có ghi trọng lượng ở La Bạc Loan (Đội công tác Văn vật khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây 1978: 26-27). Ngoài trống đồng, thạp đồng là những hiện vật có thể có chức năng đồ đựng, thì còn có loại nhạc khí chuông đồng (chuông M1: 35, chuông M1-36) là loại hiện vật không thể là đồ đựng được, mà cũng có minh văn ghi trọng lượng. Vậy chỉ có thể coi minh văn ở đồ đồng La Bạc Loan là ghi trọng lượng của bản thân đồ đồng mà nó ghi mà thôi. Vì thế, minh văn ghi trọng lượng trên trống Cổ Loa cũng chỉ có thể là minh văn ghi lại trọng lượng của trống Cổ Loa mà thôi.

Để xác định chữ còn thiếu ở khoảng trống bị gỉ cũng như cả đoạn ghi trọng lượng của trống Cổ Loa, chúng tôi tiến hành một phương pháp: lần ngược dòng từ thực tế trọng lượng trống là 72 kg (trọng lượng này không thay đổi nhiều theo thời gian, kể khi trống bị ô xy hoá làm cho gỉ) để quy đổi theo các chuẩn mực trọng lượng đương thời đã biết, so sánh và đoán định đoạn chữ trên trống. Kết quả cho thấy:

1- Nếu theo chuẩn mực của thời Tần Hán mà Ngô Thừa Lạc đã công bố (Nguyễn Duy Hinh 1995) tức 1 cân = 0,5165 kg, thì trống Cổ Loa nặng là 139,39 cân, tức xấp xỉ 140 cân.

2- Nếu theo chuẩn mực của thời Vương Mãng-Hậu Hán mà Ngô Thừa Lạc đã công bố tức 1 cân = 0,4555 kg, thì trống Cổ Loa nặng là 161,6 cân.

Nếu so sánh đối chiếu giữa trọng lượng thực tế của trống Cổ Loa đã được quy chuẩn theo thời Tần Hán là 140 cân (đọc là "Trọng bách tứ thập cân" với dòng minh văn trên trống là "Trọng … tứ thập cân" thì thấy rõ ràng : chữ mất đi của dòng minh văn chỉ có thể là chữ "Bách".

Theo chúng tôi, trong trường hợp trống Cổ Loa, phương pháp cân trọng lượng thực tế của trống, so với chuẩn trọng lượng đương thời tìm được sự tương đồng là phương pháp duy nhất đúng để minh giải đoạn đầu của dòng minh văn cổ là: "Trọng bách tứ thập cân"

Cũng cần mở rộng vấn đề ở đây là: nếu theo quy chuẩn trọng lượng thời Vương Mãng-Hậu Hán thì dòng minh văn phải có những chữ liên quan như "Trọng bách lục thập nhất (hay nhị) cân" cho phù hợp mà điều đó thì không ăn nhập gì với những chữ khắc ghi trên trống Cổ Loa.

Chúng tôi cũng mở rộng so sánh với La Bạc Loan (Đội công tác văn vật khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây 1978: 26-27).

Dường như quy chuẩn dung lượng ở đây cũng là chuẩn dung lượng ghi trên trống Cổ Loa và đó là chuẩn của thời Vương Mãng-Hậu Hán. Nhưng chuẩn trọng lượng lại khác biệt.

Chúng tôi đã thống kê và so sánh giữa trọng lượng thực của 1 trống, 2 chuông và 1 thạp (tính ra kg) và trọng lượng ghi trên minh văn của chúng (tính ra cân) thì thấy số đo trung bình của một cân ở La Bạc Loan chỉ khoảng 0,2629 kg. Nếu quy chuẩn theo số đo này thì trống Cổ Loa phải là 273,8 cân. Nếu số đo này mà được ghi trên trống thì phải là "Trọng nhị bách thất thập tam cân bách lạng". Rõ ràng với những chữ chỉ trọng lượng như vậy thì cũng chẳng có gì ăn nhập với minh văn trên trống Cổ Loa.

Còn một chữ cuối cùng trên minh văn của trống Cổ Loa là chữ ở vị trí ngay sau đoạn "Trọng bách tứ thập cân". Chữ này được Từ Tích Đài cho là chữ "Đệ" mà sau Nguyễn Duy Hinh cho là chữ "Toán" hay chữ "Mạc" như đã nói.

Xét về mặt lô gic, như ở La Bạc Loan, những chữ Bố, Tích, Phiên đi kèm với câu chữ chỉ trọng lượng là có ý để nói lên địa danh liên quan đến đồ đồng đó mà các nhà khảo cổ học Quảng Tây cho rằng Bố nghĩa là Bố Sơn, ở huyện Quý, Quảng Tây. Tích là địa danh ở huyện Tây Hiệp, tỉnh Hà Nam. Phiên có thể là huyện Phiên cũ mà nay thuộc về huyện Đằng, tỉnh Sơn Đông hoặc cũng có thể là Phiên Ngung tại Quảng Châu ngày nay (Đội công tác văn vật khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây 1978: 27).

Nếu theo lô gic trên thì chữ này phải là tên riêng của địa phương nào đó đương thời mà Nguyễn Duy Hinh đọc ra là chữ "Toán"(    ) hay chữ "Mạc"(     ) hay là một chữ nào đó để chỉ địa danh mà chúng tôi chưa giải mã được.

Tóm lại, theo chúng tôi, dòng chữ cổ trên trống Cổ Loa có kết cấu 3 đoạn gồm 14 chữ, trong đó có 13 chữ đã đọc được và có thể được giải mã như sau: "Trọng bách tứ thập cân (một chữ chưa đọc được). Đệ nhị Tây Vu. Dung bát thập nhị".

 

Đôi điều về lịch sử đương thời

Nếu như cách đọc những chữ trong dòng chữ cổ của chúng tôi là đúng 13 trong số 14 chữ, thì không những chúng ta có được một bằng chứng về tự dạng của một loại chữ Hán sớm, biết được một phần cách "hành văn" cũng như một trong những chức năng ghi chép của chữ Hán là trên đối tượng trống đồng. Bên cạnh đó, một loạt hệ quả lịch sử có thể rút tỉa được từ dòng chữ quý hiếm đó:

1 – Trước tiên là vấn đề niên đại chôn xuống đất của trống Cổ Loa và những hiện vật chôn trong lòng trống.

Cũng xin lưu ý là chúng tôi chưa bàn đến niên đại đúc trống Cổ Loa, cũng là một vấn đề lý thú và phức tạp, nhất là việc trống đồng là hiện vật đặc biệt, có thể có một "cuộc sống" lâu dài sau khi đúc, có thể được sử dụng lâu dài trong một cộng đồng người trước khi được chôn xuống đất như một dạng đồ tuỳ táng hay như chỉ để chôn giấu như một dạng giấu của…

Niên đại chôn trống Cổ Loa, các nhà khai quật trực tiếp đã căn cứ vào tiền "Bán Lạng" tìm thấy được đúc vào năm Lã Hậu thứ hai (năm 186 trước Công Nguyên) để xác định giới hạn dưới là thế kỷ II trước Công Nguyên (Nguyễn Giang Hải, Nguyễn Văn Hùng 1983: 22). Trong một đoạn khác của bài này, các tác giả còn nói rõ là sự chôn trống Cổ Loa liên quan đến những biến động xã hội trong giai đoạn phát triển cuối cùng của văn hoá Đông Sơn trước nguy cơ xâm lược từ phương Bắc (tức trước năm 111 trước Công Nguyên). Phải chăng là như vậy? Việc giải nghĩa các chữ ghi trên trống Cổ Loa của chúng tôi lại cho một niên đại khác với niên đại mà các tác giả trên đoán định.

Số đo trọng lượng mà chủ nhân trống Cổ Loa áp dụng theo chuẩn mực thời Tần Hán. Nhưng số đo dung lượng mà chủ nhân trống áp dụng lại là của thời Vương Mãng-Hậu Hán. Điều đó có thể lý giải: thời điểm những chữ Hán được khắc phải ở một thời điểm mà trọng lượng vẫn đo theo chuẩn mực cũ (Tần Hán) nhưng dung lượng đã phải đo theo chuẩn mực của triều đại mới (ít ra từ thời Vương Mãng). Suy ra là trống không thể được chôn sớm hơn cái thời mà có chuẩn dung lượng thời Vương Mãng. Triều đại này trong lịch sử chỉ tồn tại cực ngắn, từ năm 6 đến năm 23 Công Nguyên, nhưng đã có một số cải cách quan trọng mà một trong những cải cách đó là thay đổi chuẩn dung lượng và trọng lượng khác với các triều đại trước đó.

Tóm lại, niên đại dòng chữ trên trống sớm nhất cũng phải được khắc từ khi có chuẩn dung lượng mới, cũng phải từ sau năm thứ 6 Công Nguyên. Từ đó suy ra niên đại của việc chôn trống Cổ Loa phải sau năm thứ 6 Công Nguyên, có thể trong khung niên đại thế kỷ 1 Công Nguyên.

2 – Dòng chữ cổ được giải mã cho ta biết được một hệ thống đo lường mà các tộc Bách Việt đương thời sử dụng: Để đo dung lượng, đầu Công Nguyên, người Việt cổ ở vùng đồng bằng sông Hồng và người ở vùng đất cũ của Nam Việt (huyện Quý Quảng Tây nơi có địa điểm La Bạc Loan) cùng sử dụng chuẩn mực thống nhất của thời Vương Mãng-Hậu Hán. Tuy nhiên, để đo trọng lượng thì giữa hai vùng này có khác: người Việt đồng bằng sông Hồng vẫn sử dụng hệ thống trước đó của thời Tần Hán như một dạng bảo lưu, còn người ở vùng Quảng Tây lại dùng một chuẩn mực khác, mang tính địa phương không giống với chuẩn mà các vương triều đương thời quy định.

3 – Cho đến thời điểm trống Cổ Loa chôn xuống đất – thế kỷ 1 Công Nguyên -  vị thế của trống đồng đã suy giảm so với các thời kỳ trước đó.

Trong lòng trống đã có những mảnh trống có tượng cóc, dấu hiệu là có niên đại muộn hơn trống Cổ Loa. Điều đó cũng chứng tỏ trống đồng đến giai đoạn này cũng đã trở thành một đối tượng của sự thu gom như nhiều đồ đồng vỡ khác trong lòng trống.

Bên cạnh chức năng chính là âm nhạc, biểu tượng quyền uy, đến giai đoạn đầu Công Nguyên, một số trống mà Cổ Loa là ví dụ đã kèm theo chức năng phụ là đồ đựng (mặc dù là đồ đựng quý giá). Vì thế mà trên trống đồng mới khắc dòng chữ để chỉ dung lượng. Thực tế, trống đồng ngay vào thời điểm trước Công Nguyên đã mang nhiều chức năng khác ban đầu như tài liệu khảo cổ học cho thấy: đựng ốc tiền (mộ Thạch Trại Sơn, Vân Nam) làm áo quan (mộ Tây Lâm, Quảng Tây), cưa ra làm án 3 chân (án đồng M1-13 La Bạc Loan được làm từ trống đồng dạng trống Đông Sơn bằng cách cưa bỏ một phần tang và thân trống rồi hàn lên mặt trống 3 chân hình móng guốc một cách thô bạo)…

4 – Mặc dù niên đại chôn trống Cổ Loa muộn, ít ra sau khi nhà Hán xâm lược nước ta, năm 111 trước Công Nguyên tới hơn một thế kỷ, nhưng đồ đồng chôn theo tuyệt đại đa số là đồ đồng Đông Sơn. Điều đó chứng tỏ sức sống Đông Sơn ở thời điểm này vẫn còn mãnh liệt. Người Việt cổ không bị nhà Hán đồng hoá nhanh như nhiều người tưởng. Có thể sau khi chiếm đóng nước ta, nhà Hán chưa dám làm xáo trộn xã hội người Việt cổ bản địa. Sử cũ cũng ghi lại điều này: Năm 111 trước Công Nguyên, Lộ Bác Đức tuân lệnh Vua Hán đã hoàn thành sứ mệnh xâm chiếm nước ta, nhưng vẫn phải để cho những thủ lĩnh cũ ở địa phương làm Thái Thú ở 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam để trị dân như cũ (Đại Việt Sử Ký toàn thư. Bản dịch năm 1993: 153).

5 – Dòng minh văn trên trống Cổ Loa là chứng tích chữ Hán sớm nhất nước ta, mặc dù trình độ khắc chữ Hán của một tác giả khuyết danh nào đó chưa đẹp, còn nguệc ngoạc. Cùng với một hệ thống ký tự của các tộc Việt có niên đại sớm hơn (Hà Văn Tấn 1982: 31-46), chữ Hán trên trống Cổ Loa đã phản ánh một mối giao lưu văn hoá đậm nét thể hiện ở góc độ chữ viết giữa các tộc người trong khối Bách Việt, giữa họ với khối người Hán là một điều cần ghi nhận.

6 – Nếu như cách giải mã của chúng tôi là chính xác thì sự tồn tại của huyện Tây Vu lại một lần nữa được soi sáng. Vị trí của huyện này, năm nhà Hán chia huyện Tây Vu ra thành hai huyện Phong Khê và Vọng Hải cũng đã từng được sử sách nói đến nhiều, nay lại được bổ sung tư liệu khảo cổ học. Điều đó vô cùng quan trọng để lần theo những sự kiện lịch sử đương thời của nước ta:

-                 Phải chăng trước khi là huyện Tây Vu thì có một bộ trong số 15 "bộ&