Thông tin
 
Thống kê
 17 Hôm nay
 17 Tuần
 283 Tháng
 8.724 Năm
 47.847 Tất cả
1 Online
 
Video
 

kẻ rị kẻ chè(giới thiệu )

Cùng với khuynh hướng lịch sử địa phương đang được phát triển ở các ngành các cơ sở việc biên soạn những tập sách giới thiệu truyền thống – chủ yếu là truyền thống dân gian, đã được đẩy mạnh ở nhiều nơi. Một số tỉnh, thành đã sắp sửa xuất bản những tập địa chỉ văn hoá dân gian dày dặn: Vĩnh Phú (1986), Nghệ Tĩnh, Hà Nội  (đang in). Lý luận và kinh nghiệm biên soạn loại sách này đang phải chờ sau một quá trình thực hiện mới có thể đúc kết được. Ý kiển trao đổi về vấn đề này hiện nay cũng còn rất ít (1). Tuy vậy sự hưởng ứng chung lại cho thấy có nhiều phấn khởi. Muốn có được một cuốn sách lịch sử xã, lịch sử ngành nghề là nguyện vọng tha thiết của mọi người của của Việt Nam đang sinh sống ở từng địa bàn hoạt động, kể cả ở nước ngoài. Nhưng để có một cuốn sử như vậy còn phải có nhiều thời gian, nhiều công phu tìm tòi nghiên cứu. Những tập sách biên soạn theo giáo độ văn hoá, văn nghệ dân gian có thể buớc đầu ứng đáp phần nào khát vọng này. Vì nếu tư liệu dân gian được khai thác một cách toàn diện theo cách nhìn tổng thể đúng như bản chất nguyên hợp của folklore, thì truyền thống cũng có khả năng hiện lên rõ nét. Khoanh phạm vi lại cho dễ nhận đối tượng và địa bàn khảo sát, thì đây là vấn đề khoa học mà chúng ta gọi là vấn đề nghiên cứu văn hoá làng. Văn hoá làng là một đề tài sâu sắc, ý vị, có thể giúp cho chúng ta tìm lại bản sắc bản lĩnh dân tộc được kết tụ và lắng đọng từ lâu. Văn hoá làng giúp cho chúng ta nhìn qua diện mạo quê hương - một cách nhìn tổng thể, đa dạng, để rút ra được quy luật sinh thành và phát triển của cả một cộng đồng trên diễn trình tiến hoá. Chúng ta hoan nghênh việc các địa phương nhiệt tình khai thác truyền thống văn hoá dân gian theo ý nghĩa đó.

   Quê hương Việt Nam ta từ Nam chí Bắc, mỗi xứ sở, mỗi vùng cho đến mỗi làng quê xóm núi đều có truyền thống riêng, có bề dày lịch sử, xây đắp công lao của nhiều thế hệ, nơi nào cũng có cái đẹp, cái hay. Không nên có ý nghĩ so sánh hơn kém giữa vùng này hay vùng nọ. Trường hợp nơi nào đó chưa có nét nổi bật thì đó là do sự thiếu sót ở trong việc tích luỹ, lưu trữ ngày xưa, và do sự hạn chế của công phu khai thác ngày nay. Nhưng ở một số trường hợp có địa phương lưu được nhiều chứng tích quen biết. Cần lưu ý để hướng việc tìm tòi cho nhanh chóng có hiệu quả. Xã Thiệu Trung đất Kẻ Rỵ – Kẻ Chè – là thuộc trường hợp này. Cùng với nhiều địa điểm khác ở miền Thanh Hoá, Thiệu Trung quả thực chứa đựng nhiều đề tài phong phú. Chưa nói đến những ngày lịch sử xa xôi, chỉ kể từ khi nước ta xây dựng nền tự chủ Những người nghiên cứu đã phải chú ý đến địa phương này. Chúng ta đều biết hiện nay giới sử học đang rất quan tâm đến tình hình của thế kỷ X, đặc biệt là trên đất Ái Châu. Thì đó là vấn đề có thể trên cơ sở điều tra thực địa mảnh đất Kẻ RY – Kẻ Chè mà nhận ra tín hiệu hay truy tìm vang bóng. Nơi đây có vấn đề kinh tế ấp trại, trang, có vấn đề của các lệnh tộc, các dòng họ, có cả vấn đề Phật giáo, Nho giáo từ Đinh Bộ Lĩnh cho tới Lý Thường Kiệt v.v… Một hiện tượng cũng đáng lưu tâm về mặt văn hoá giáo dục là ở giai đoạn lịch sử Lí Trần  ấy, đất Kẻ Rỵ – Kẻ Chè  lại xuất hiện một loại tri thức có vị trí trong lịch sử, Bảng nhãn  Lê Văn Hưu, tiến sĩ Lê Quát .v.v… Những thời đại kế tiếp về sau, trên mảnh đất này đã tiếp tục có những diễn biến gì ở các lĩnh vực kinh tế văn hoá xã hội ấy? Trả lời những câu hỏi ấy mà đi tìm bằng chứng cầm tay theo phương pháp nghiên cứu lịch sử là cả một vấn đề khó khăn. Một cuốn xã chí, địa chí tìm tòi trên diện rộng theo góc độ văn hoá dân gian (nên dùng thuật ngữ quốc tế folklore) mới có thể giúp cho việc nghiên cứu  được nhiều gợi ý. Về mặt này, Kẻ Rỵ – Kẻ Chè lại cũng có một số thuận lợi cho việc điều tra khai thác. Ta đã biết làng xóm này nằm ngay trên hữu ngạn sông Lường (bây giờ là sông Chu) và chung quanh nó là những điểm, mà giới nghiên cứu văn nghệ dân gian  chúng tôi đã công nhận là những điểm folklore quan trọng: Bôn, Viên Khê, v.v… Không thể nói rằng một vị trí như thế không có những tiếp cận giao lưu. Chúng ta sẽ gặp ở sinh hoạt văn hoá dân gian Kẻ Rỵ – Kẻ Chè những cái riêng cái chung trong tất cả các mặt ngôn ngữ, văn từ, diễn xướng.

   Xã Thiệu Trung từ xưa và bây giờ cũng vậy đã là một vùng có nghề truyền thống nổi lên là nghề đánh thừng và đúc đồng. Trà Đông có một vị trí nhất định trong nghề thủ công mỹ nghệ cho đến hôm nay, vẫn có những sản phẩm được trân trọng như tượng Bác Hồ. Tiện đây, tôi cũng xin thông báo chung với bạn đọc là vấn đề nghiên cứu “ làng nghề” được hưởng ứng khắp nơi (2). Chúng tôi đang hi vọng là loại sách nghiên cứu giới thiệu làng nghề nếu được xuất bản nhiều, sẽ có thể giúp ta hiểu rõ được những khả năng kỳ diệu bàn tay khối óc ông cha xưa, từ đó mà rát ra những kinh nghiệm thiết thực góp phần xây dựng nền kinh tế mới. Tất nhiên như chúng ta đều biết kinh nghiệm thủ công cổ truyền không phải tất cả đều sống được với những kết quả khoa học, đang tạo nên nhiều sản phẩm tinh xảo ngày nay. Song không phải vì thế mà những mặt hàng mỹ nghệ dân gian Việt Nam giờ đây không còn hấp dẫn. Vả lại thành thực mà nói giờ đây chúng ta vẫn chưa biết rõ cha ông chưa học hết, hiểu hết cái hay của người đi trước kỹ thuật chế tạo trống đồng, tượng đồng từ thuở Đông Sơn cho đến bây giờ vẫn còn phải nghiên cứu, tìm tòi. Nghệ thuật Trà Đông ở Kẻ Rỵ – Kẻ Chè thêm được lượng thông tin nào cho những vấn đề đang chờ đợi ấy ?

Bấy nhiêu vấn đề sơ bộ phác ra trên đây trong một bài giới thiệu tôi không có điều kiện đi sâu cho thấy là việc nghiên cứu  giới thiệu Kẻ Rỵ – Kẻ Chè là hoàn toàn có lý do chính đáng và cần thiết. Nó không dừng lại ở việc trình bày diện mạo văn hoá cổ truyền của một làng xã mà có khả năng ứng đáp cho yêu cầu nghiên cứu, yêu cầu học luật của nước nhà nói chung và của miền Thanh nói riêng. Khả năng cố nhiên là có hạn, khả năng của bản thân những người biên soạn một phần, khả năng của một tư liệu lại là một hạn chế nữa nhưng các bạn học viên, soạn giả của tập sách này đã có những cố gắng nhất định. Với kinh nghiệm đã thu hoạch được sau cuốn sách viết về Định Tường với hướng nghiên cứu folklore theo quan điểm mới, với sự hỗ trợ của địa phương nhóm biên soạn thực sự đã xó công phu khai thác để cố xây dựng diện mạo Kẻ Rỵ – Kẻ Chè trong điều kiện chủ quan và khách quan cho phép. Văn nghệ dân gian ở đây được phát hiện rất phong phú và theo quan điểm tổng hợp của folklore. Những tài liệu về các dòng họ, những di vật, những màu đã sử về người, về việc cũng đã được thu nhặt khá nhiều – (trong đó một số lớn tôi được biết là các bạn phải gác lại do điều kiện in và do tính chất yêu cầu của một cuốn sách phổ thông).Việc chú ý đến ngôn ngữ địa phương, đến kinh nghiệm nghề đúc đồng là những dấu hiệu tốt . Có một số yêu cầu chưa thoả mãn các nhà nghiên cứu – (Vấn đề đạo phật , vấn đề kinh tế trong ấp hay công xã )- Tôi tin là bạn đọc có thể thông cảm mà không xem là sự thiếu sót đáng kể ở sách này (3).

 

   Tôi xin được nhân dịp này chia niềm phấn khởi với các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ chuyên môn các cơ quan văn hoá, xuất bản ở Thanh Hoá - những bạn chiến đấu cũ của tôi. Nhớ lại những ngày của chúng ta nhất trí với nhau về một kế hoạch điều tra cơ bản, nghiên cứu văn hoá làng và giờ đây chúng ta đã có một loạt sách như Định Tường, Quỳ Chữ, Ca Da, Mường Đủ. Tôi lại cũng được trông thấy những bản tháo đã được hoàn thành sắp sửa được ra mắt như tập viết về Kẻ Bôn. Theo thông tin chưa đầy đủ gửi về Trung ương Hội và Viện văn hoá dân gian thì cho đến nay (1987) Thanh Hoá vẫn là địa phương có nhiều đầu sách về folklore làng bản, được chính thức in typô. Cuốn Kẻ Rỵ – Kẻ Chè này ra đời, lại thêm một cố gắng mới cho chương trình kế hoạch lâu dài nói trên.

   Trước khi chấm dứt những dòng giới thiệu này, tôi xin phép tỏ lời hoan nghênh Đảng uỷ, Uỷ ban và các ngành các giới xã Thiệu Trung đã nhiệt tình giúp đỡ nhóm soạn giả, hội viên hội chúng tôi hoàn thành tập sách. Tôi hết sức trân trọng quyết tâm của các vị và các đồng chí địa phương đã tạo điều kiện cho cuốn sách ra đời. Rõ ràng là các đồng chí  và nhiều đồng chí ở các địa phương khác trong tỉnh Thanh Hoá đã rất quan tâm đến vấn đề khoa học, và cũng đã thiết thực ủng hộ cho các hội, các viện ở Trung ương tiến hành nghiên cứu khoa học dưới ánh sáng đường lối văn hoá của Đảng đề ra, với tinh thần tiếp thu di sản có phê phán, với  sự đổi mới tư duy, tôi nghĩ rằng cuốn sách này sẽ không chỉ là món quà tư liệu của địa phương  góp vào kho tàng văn hoá cả nước. Nó còn là một sự kiện mới trong đời sống văn hoá làng có ích lợi thiết thực cho công tác giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng tình cảm cho các thế hệ trên một hướng đi cụ thể: cải tạo cái không hợp thời, phát huy cái thế mạnh của chúng ta đã được hun đúc trong trường kỳ lịch sử. Truyền thống và hiện đại phải được tiếp nối, nâng cao để tạo nên cuộc sống mới, con người mới, chúng ta không  thể quên khâu nào cả. Thực là thú vị, khi tìm câu kết luận cho bài giới thiệu sơ lược này, tôi bỗng nhớ tới một câu ca dao của Kẻ Rỵ – Kẻ Chè.

   “Trăm chắp nghìn nối xin đừng quên nhau”

                                                  

                                                               Hà Nội mùa xuân 1987

                                                   Giáo sư Vũ Ngọc Khánh

                                       Uỷ viên Thường vụ Trung ương Hội

                           Trưởng ban chuyên môn Hội văng nghệ Dân gian Việt Nam

 

           

 

Chú thích

  1. Bước đầu, chúng tôi mới trình bày trên các tạp chí văn hoá dân gian

-          Số 1 năm 1983: Biên soạn địa chí văn hoá dân gian

-          Số 2 năm 1985: Từ các địa phương chí ngày xưa đến địa chí văn hoá dân gian.

Và trên thông báo số 2 của Hội Văn nghệ Dân gian năm (1987).

Biên soạn sách “làng nghề ”.

  1. Ban chuyên môn Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam đã chỉ đạo cho một nữ hội viên biên soạn sách Đại Bái Gò đồng
  2. Làng Đại Bái thuộc huyện Gia Lương tỉnh Hà Bắc). Hội đang cho in cuốn sách này. Phần viết về Trà Đông trong sách Kẻ Rỵ – Kẻ Chè cũng đã được chỉ đạo theo hướng biên soạn làng nghề ấy.
  3. Các soạn giả có băn khoăn về việc cho in được những khoán ước, địa bạ, một số gia phả, thần phả văn tế ở đình đền và nhà thờ họ v.v… Tôi đồng ý là có thể giành cho những chuyên đề hoặc cho kho lưu trữ bảo tàng xã, để cuốn sách không quá nặng nề, mà quá phạm vi một địa chí folklore.